Phân tích SWOT ngành Gỗ (phần 2): Những hạn chế mang tính tổ chức. Không có sự tương xứng giữa vùng trồng và vùng tiêu thụ

Như đã hứa non hẹn biển, tiếp theo phần 1 của phân tích SWOT, Bắp gửi đến phần 2 cho cả nhà

  • Phân bố các vùng trồng rừng lớn
    • Đông Bắc: trên 1,2 triệu ha chiếm 38% tổng diện tích rừng trồng đã thành rừng
    • Bắc Trung Bộ: trên 0,73 triệu ha, chiếm 21% tổng diện tích rừng trồng đã thành rừng
    • Nam Trung Bộ: trên 0,62 triệu ha, chiếm 18% tổng diện tích rừng trồng đã thành rừng
    Có thể thấy các vùng trồng rừng lớn có mối tương quan mật thiết với đặc tính địa lý, vì vậy đây được xem là biến số khó có thể thay đổi.

image

  • Phân bố mật độ các doanh nghiệp chế biến sâu gỗ
    Bất cập với phân bố các vùng trồng rừng, các doanh nghiệp gỗ (ngoài dăm) lại có xu hướng phân bố ở những khu vực có các điều kiện tốt về logistic cũng như hệ thống phụ trợ đồng bộ, cụ thể:
    • Đông Nam Bộ có mật độ các doanh nghiệp chế biến ở mức cao nhất với trên 2.100 doanh nghiệp, chiếm 42,3%
    • Vùng Bắc Trung Bộ, Đông Bắc và Duyên Hải là các vùng có mật độ phân bố doanh nghiệp đứng thứ 2 trong cả nước, với tỷ lệ doanh nghiệp chế biến tại mỗi vùng này chiếm trên 11% trong tổng số doanh nghiệp của ngành.
    • Các vùng còn lại, đặc biệt là Tây Bắc là vùng có tỷ trọng doanh nghiệp thấp nhất.

image
Tại khu vực Miền Trung (bao gồm Bắc Trung Bộ và Duyên Hải) nơi diện tích rừng trồng chiếm 40,8% trong tổng diện tích rừng trồng của cả nước, các cơ sở chế biến sâu chỉ chiếm 23,2% trong tổng số cơ sở chế biến sâu, trong khi các cơ sở chế biến dăm chiếm trên 60,5% tổng cơ sở chế biến dăm cả nước. Xu hướng tương tự ở khu vực Đông Bắc: diện tích rừng trồng chiếm 36,1%, các cơ sở chế biến sâu chiếm 11,5% và các cơ sở dăm chiếm 27,7%.
Có thể nói hiện đang tồn tại việc mất cân đối mang tính chất hệ thống giữa các vùng nguyên liệu rừng trồng và năng lực chế biến sâu, và hệ quả là thúc đẩy sự hình thành và phát triển của ngành dăm vốn được xem là ngành ít tạo ra giá trị gia tăng nhất.
• Hiện cả nước có 3 vùng có sự hiện hiện của các doanh nghiệp dăm nhiều nhất, bao gồm vùng Đông Bắc, Bắc Trung Bộ và Duyên Hải Miền Trung. Số lượng nhà máy dăm tại 3 vùng này chiếm gần 90% trong tổng số các nhà máy và tổng công suất các nhà máy dăm trên toàn quốc. Điều này có nghĩa rằng các doanh nghiệp dăm hiện diện nhiều nhất ở nơi có các diện tích rừng trồng lớn nhất nhưng có ít cơ sở chế biến sâu nhất.

Năng suất và trình độ lao động kém cạnh tranh

image

Ngành gỗ Việt Nam đang thiếu các nhà thiết kế chuyên sâu các sản phẩm gỗ, khi chỉ chiếm 1 đến 2%, một con số quá bé nhỏ để tạo ra sự thúc đẩy và sức sáng tạo cho ngành gỗ, điều này cho thấy phần lớn đơn hàng đều là gia công cho các thương hiệu nước ngoài. Bên cạnh đó, chỉ có 30% lao động được đào tạo bài bản còn lại là lao động phổ thông chưa qua đào tạo, nên năng suất lao động của ngành gỗ thấp, chỉ bằng chỉ bằng 50% so với Philipines, 40% Trung Quốc và 20% Liên minh châu Âu (EU).
Khác với một số ngành xuất khẩu cạnh tranh về giá trong tương quan với đầu vào, ngành gỗ là ngành mà khả năng định giá được quyết định bởi đa dạng mẫu mã và tính đặc sắc của sản phẩm, tạo được sự khác biệt và giá trị gia tăng cao với tính thẩm mỹ thiết kế sáng tạo và độc đáo. Điều này đòi hỏi chất lượng nguồn nhân lực cao trong thiết kế, định vị sản phẩm, từ đó chiếm lĩnh được thị phần. Vì thế đào tạo nguồn nhân lực là một trong những trọng tâm mà ngành gỗ cần tập trung trong thời gian tới.
• Theo ước tính, để đạt mục tiêu xuất khẩu 20 tỉ USD vào năm 2025, tỉ lệ nhân lực qua đào tạo cần chiếm khoảng 50% tổng số lao động của ngành. Hiện tại ngành gỗ cần khoảng trên 500.000 người lao động trong ngành và hơn 1 triệu người phụ thuộc vào ngành, dự kiến năm 2025 ngành gỗ sẽ cần khoảng 106.800 người có trình độ đại học trở lên và có trên 445.200 công nhân kỹ thuật cao ngành gỗ.
Công nghiệp phụ trợ ngành gỗ kém phát triển
Công nghiệp hỗ trợ đóng vai trò to lớn trong quá trình phát triển của ngành chế biến gỗ trên thế giới và chiếm tỷ trọng khá cao trong giá thành sản xuất ra sản phẩm gỗ (bình quân từ 20 – 30%). Với mục tiêu hiện đại hóa ngành gỗ, làm chủ từ khâu thiết kế đến hoàn thiện sản phẩm và có vị trí cao trong chuỗi giá trị toàn cầu, không thể không đầu tư cho công nghiệp hỗ trợ phục vụ cho chế biến gỗ.
• Ở Việt Nam chỉ có khoảng 0,3% trong tổng số gần 500 nghìn DN Việt Nam đang tham gia vào sản xuất chế tạo cho ngành CNHT, đó cũng là thực trạng chung của CNHT ngành gỗ. Đây thực sự là vấn đề lớn cần phải khắc phục khi so sánh với một số nước xuất khẩu gỗ hàng đầu thế giới như Malaysia hay Indonesia.
• Hàng năm các doanh nghiệp tiêu tốn hàng trăm triệu USD để mua nguyên phụ liệu phục vụ ngành gỗ. Đa phần các nguồn phụ liệu như đinh vít, sơn, véc-ni, giấy chà nhám… đều được cung cấp bởi các doanh nghiệp nhập khẩu về phân phối lại tại. Việc phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu và CNHT kém phát triển đã ảnh hưởng đến chất lượng tăng trưởng ngành công nghiệp gỗ.
Nhìn sang quốc gia sản xuất, xuất khẩu đồ gỗ hàng đầu châu Á là Malaysia với kim ngạch xuất khẩu khoảng 23 tỷ USD gỗ và sản phẩm từ gỗ mỗi năm. Các nhà sản xuất Malaysia đã và đang quyết liệt trong đầu tư công nghệ cho chế biến sâu, phát triển công nghiệp hỗ trợ đặc biệt là các loại phụ kiện như ngũ kim, đinh vít, ốc vít, ke, bản lề, khóa, tay nắm… Máy móc chế biến gỗ, công nghệ thông tin (phần cứng và mềm thiết kế), vật liệu, trang thiết bị, linh phụ kiện, sản phẩm dệt may và đồ da phục vụ đồ gỗ nội thất, sơn và chất xử lý bề mặt khác…
Chưa khai thác tiềm năng thị trường nội địa
Bên cạnh hạn chế ở các yếu tố đầu vào, ngành gỗ Việt Nam vì mải mê chạy theo xuất khẩu mà bỏ quên thị trường nội địa đầy tiềm năng.
• Theo Cục Chế biến nông lâm, thủy sản và nghề muối (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), ước tính thị trường nội địa chiếm khoảng 40% tổng giá trị thương mại của đồ gỗ Việt Nam, cơ cấu sản phẩm gỗ tham gia thị trường nội địa là 40% cho xây dựng, 30% cho tiêu dùng nông thôn và 30% phục vụ cho nhu cầu của cư dân thành thị.
• Bình quân mỗi hộ gia đình ở Việt Nam cần mua sắm đồ gỗ với khoảng 6 triệu đồng/hộ/năm. Nhu cầu đồ gỗ cho các khách sạn, văn phòng cho thuê và các khu đô thị mới cũng có xu hướng tăng nhanh… cho thấy tiềm năng to lớn của thị trường gỗ nội địa. Rõ ràng đây là một thị trường không nhỏ để các DN trong nước có thể tận dụng để gia tăng doanh thu và thị phần.
Điều nghịch lý là sản phẩm gỗ được đánh giá rất cao tại thị trường xuất khẩu nhưng lại bị người tiêu dùng trong nước quay lưng. Thị phần gỗ nội địa hiện nay đang vào tay các DN Thái Lan, Malaixia, Indonesia, Nhật. Thị trường đồ gỗ nội địa hầu như phó mặc cho làng nghề, các doanh nghiệp nhỏ và vừa, tập trung vào phân khúc đồ gỗ nội thất, mỹ nghệ và xây dựng. Nhưng chất lượng lại không đồng đều, mẫu mã hạn chế khiến đồ gỗ nội khó thu hút được người tiêu dùng. Nguyên nhân một phần do thị trường nội địa vẫn còn quen với cung cách sản xuất cũ, ít cập nhật xu thế tiêu dùng, sử dụng sản phẩm mới nên tụt hậu so với thị trường xuất khẩu. Nếu khai thác tốt thị trường này, doanh nghiệp sẽ có cơ hội rất lớn để gia tăng doanh thu. Bởi, hiện nay, nhu cầu đồ gỗ trong nước đang có sự gia tăng nhanh chóng, ước tính doanh thu từ thị trường nội địa của ngành gỗ đạt khoảng 4 tỷ USD/năm.
(…còn tiếp)

“Logic sẽ đưa anh từ A đến B, trí tưởng tượng đưa chúng ta đến mọi nơi”

2 Likes

bác này trẻ mà phân tích kinh thế, dân IB ah

học mót tập viết thui a :3

Phần 1: Phân tích SWOT ngành Gỗ Phần 1: Tiềm năng tăng trưởng dài hạn mạnh mẽ - #10 by Kathy_1991