BÀI HỌC TỪ KINH LĂNG NGHIÊM KHI TRÌ CHÚ.
Nguồn: Thánh Địa Lăng Nghiêm
Khi Ngài A Nan bị nạn, sắp phạm giới liền cầu xin Phật cứu giúp.Phật thấy nhân duyên đã tới liền nhập đại định, và trên đỉnh đầu của Ngài hóa thành hoa sen ngàn cánh và trên hoa sen đó có 1 hóa thân của đức Phật, gọi là Vô Kiến Đảnh Tướng, là chổ cao nhất trên đảnh của Đức Phật. Và từ đây phóng quang Như Lai tuyên thuyết thần chú, Và Phật nói ra 5 đệ thủ Lăng Nghiêm. Sau đó sai Văn Thù Bồ Tát đem năng lực thần chú này đến trước nhà của cô gái Ma Đăng Già mà tụng 1 biến và tất cả thần lực của tà thuật ngoại đạo tóc vàng không còn tác dụng nửa.
Những bài học rút ra từ kinh Lăng Nghiêm khi tu trì Lăng Nghiêm.
Một là: Tôn Giả A Nan có tâm hay ỷ lại mình là người đa văn, học rộng hiểu nhiều,em của Phật, là người có trí nhớ giỏi nhất mà coi thường công phu tu hành. Đây là 1 lỗi phổ biến của chúng ta,luôn ỷ lại vào hiểu biết,biện luận của mình mà xem nhẹ công phu sớm tối hằng ngày. Nhưng chính công phu đó nó mới chính là đạo lực, giúp chúng ta giác ngộ chân lý giải thoát. Còn kiến thức hiểu biết kia nó chỉ là đèn soi sáng để đi, chứ không phải là tuệ giải thoát của Như Lai,cần phải có định lực tu hành. Đây là 1 điều mà Phật muốn cảnh tỉnh. Nếu dựa vào kiến thức hiểu biết nhỏ nhoi mà bỏ qua học kinh, trì chú, công phu bái sám…để có định lực, thì đó là 1 tà kiến điên đảo.
Hòa thượng Từ Mãn là 1 bậc Thầy về Mật Tông ở Miền Trung nước ta. Khi vua Thành Thái bị TQ dùng tà thuật hại để thân thể suy nhược, và lúc ấy triều đình mời hết cao tăng đương thời cũng không có cách nào hóa giải. Cuối cùng phải nhờ đến Hòa Thượng Từ Mãn. Và Ngài vì tuổi cao sức yếu, nên mới phái học trò của mình Ngài Phước Huệ ra đó thi triển Phật pháp mà hóa giải. và sau đó được phong làm quốc sư luôn. Kinh chú Lăng Nghiêm được các Ngài xiển dương rộng rải kể từ đây mà ra.
Các dự ngôn của các Thánh Hiền tiền nhân để lại, sau này thiên hạ cũng phân chia làm 2 thái cực đối lập,chánh tà đấu nhau, và bao nhiêu tà thuật gì đều đem ra thi triển hết,làm dân chúng điêu linh. Ngay từ thời bình bây giờ mà Kumang thông rao bán đầy trên mạng, nghĩa là sau đó là cả 1 thế lực âm binh mà các tà sư đang nuôi dưỡng. Nếu mình không tu trì Lăng Nghiêm và truyền lại cho con cháu tu học về sau thì e rằng không đủ định lực để thoát khỏi khổ nạn này.
Hai là: vạn sự đều do nhân duyên. Chúng ta không nên dùng từ dâm nữ Ma Đăng Già, vì trước đó mấy trăm kiếp trước thì cô ấy và Ngài A Nan từng là vợ chồng nên duyên nghiệp xưa còn níu kéo lại.Nhiều người xem thường cô gái họ Ma Đăng Già, tên Bát Kiết Đế này nhưng lại không biết rằng sau khi đi vào giáo pháp của Như Lai thì 1 thời gian sau, cô ấy chứng thánh quả A La Hán trước ngài A Nan. Còn Ngài A Nan thì phải đợi đến đợt kết tập kinh điển lần thứ 1 mới chịu chứng A La Hán do dốc lòng tu tập cho kịp. Và Cô này là 1 giai cấp thấp nhất đầu tiên xuất gia trong giáo pháp của Phật, ai ở trong đó tu hành đều thành tựu như nhau.
Ban đầu, người ta còn e dè sợ phạm giới khi tu trì Lăng Nghiêm, nhưng cứ khuyến tấn họ tu trì, để công đức lành tăng trưởng, tự khắc 1 lúc nào đó họ sẽ giác ngộ và giới luật tinh chuyên hơn. Ai chịu bước vào giáo pháp của Như Lai đều tự tìm 1 kho báo đúng với ý mình mong muốn cả.
Ba là: chỉ rõ chân tâm, kiến bày căn tánh, thấy rõ con đường Phật đạo, không còn lầm lẫn tâm ở chổ nào nửa. Nhưng nếu thấy rõ cái tâm mà không bằng định lực công phu để giữ vững thì hoàn cảnh cuộc sống cũng làm mình lầm mê như cũ nửa.
Bốn là: thị hiện tánh định, khuyến khích thực chứng. Nêu rõ đâu là Phật, đâu là Ma. Ma do ngủ ấm biến hóa và mình tưởng mình đã chứng ngộ, đắc pháp, có thần thông, chứng đắc thì tức là lầm mê.
Năm là: tiêu trừ vọng tưởng bằng cách an trú chánh niệm vào chú Lăng Nghiêm hay bất kì pháp môn nào để tâm không phan duyên theo cảnh nửa.
Sáu là: mỗi người đều có Phật tánh như nhau nhưng đi vào Phật pháp phải có phương pháp khác biệt cho phù hợp với nghiệp lực và căn tánh