DI CHÚC
Nguyễn Khuyến
Kém hai tuổi xuân đầy chín chục,
Số thầy sinh phải lúc dương cùng.
Ðức thầy đã mỏng mòng mong,
Tuổi thầy lại thọ hơn ông cụ thầy.
Học chẳng có rằng hay chi cả,
Cưỡi đầu người kể đã ba phen.
Tuổi thầy tuổi của gia tiên,
Cho nên thầy được hưởng niên lâu ngày.
Ấy thuở trước ông ■■■ cũng đỗ,
Hóa bây giờ cho bố làm nên.
Ơn vua chửa chút báo đền,
Cúi trông thẹn đất, ngửa lên thẹn trời.
Sống không để tiếng đời ta thán,
Chết lại về quê quán hương thôn.
Mới hay trăm sự vuông tròn,
Sống lâu đã trải, chết chôn chờ gì.
Ðồ khâm liệm chớ nề xấu tốt,
Kín chân tay đầu gót thì thôi.
Cỗ đừng to lắm con ơi,
Hễ ai chạy lại, khuyên mời người ăn.
Tế đừng có viết văn mà đọc,
Trướng đối đừng gấm vóc làm chi.
Minh tinh con cũng bỏ đi,
Mời quan đề chủ, con thì không nên.
Môn sinh chớ bỏ tiền đặt giấy,
Bạn của thầy cũng vậy mà thôi.
Khách quen chớ viết thiếp mời,
Ai đưa lễ phúng con thời chớ thu.
Chẳng qua nợ để cho người sống,
Chết đi rồi còn ngóng vào đâu.
Lại mang cái tiếng to đầu,
Khi nay bày biện, khi sau chê bàn.
Cờ biển của vua ban ngày trước,
Lúc đưa thầy, con rước đầu tiên.
Lại thuê một lũ thợ kèn,
Vừa đi vừa thổi, mỗi bên dăm thằng.
Việc tống táng lăng nhăng qua quít,
Cúng cho thầy một ít rượu hoa.
Ðề vào mấy chữ trong bia,
Rằng: “Quan nhà Nguyễn cáo về đã lâu”.
(1) Tạp chí Tri Tân 1941-1945.
Nguồn: Lê Quang Vinh