Vì sao hễ dư dả tài chính là người ta lại ưu tiên đổ tiền vào nhà đất và vàng bạc?
Trước hết, cần bày tỏ sự thông cảm với mong muốn mua đất của đại bộ phận người dân. Đây hoàn toàn không phải biểu hiện của lòng tham hay sự lười biếng. Đứng từ lăng kính cá nhân, việc dồn vốn tích lũy vào bất động sản hóa ra lại là một quyết định vô cùng thực tế và khó lòng phủ nhận. Suốt ba mươi năm qua, giá đất gần như chỉ đi lên theo thời gian. Mua xong chỉ cần cất giữ, chẳng phải đau đầu quản lý nhân sự, loay hoay tìm đơn hàng hay sợ công nghệ bị tụt hậu, mai một.
Trong khi đó, nhìn vào thực trạng sản xuất thời nay mới thấy muôn vàn gian truân, trắc trở. Lợi nhuận thu về thì mỏng manh trong khi rủi ro chực chờ lại lớn, làm lụng vất vả cả thập kỷ đôi khi giá trị cũng chẳng bằng một mảnh đất trúng ngay đợt sốt giá. Chính vì thế, lựa chọn mua đất của mỗi cá nhân xét ra đều có lý lẽ riêng vô cùng hợp lý. Vấn đề cốt lõi nằm ở chỗ: hàng triệu quyết định khôn ngoan của từng cá nhân riêng lẻ khi cộng hưởng lại, lại vô tình biến thành một lựa chọn tồi tệ cho toàn bộ sức khỏe nền kinh tế.
Tính đến nay, hơn một phần năm tổng dư nợ tín dụng toàn quốc đang bị giam hãm trong lĩnh vực bất động sản. Quy đổi ra con số, trong gần hai mươi triệu tỷ đồng vốn vay do hệ thống ngân hàng cung ứng, có hơn bốn triệu tỷ đồng đang đổ dồn vào đất đai. Tình trạng này vô hình trung đẩy nền kinh tế rơi vào một vòng luẩn quẩn tự bào mòn: tiền chôn vào đất làm giá đất leo thang, kéo theo chi phí mặt bằng và giá thuê xưởng tại các khu công nghiệp tăng vọt. Hệ quả là chi phí vận hành sản xuất kinh doanh ngày càng đắt đỏ, thúc đẩy dòng vốn tiếp tục tháo chạy khỏi lĩnh vực sản xuất để quay về trú ẩn ở nhà đất.
Tính chất nguy hại của vòng xoáy này nằm ở chỗ khi dòng tiền chảy vào bất động sản, nó không hề tạo ra thêm bất kỳ giá trị vật chất hay sản phẩm thiết thực nào cho quốc gia. Dòng tiền thực chất chỉ dịch chuyển từ túi của nhà đầu tư đi sau sang túi của người đi trước mà thôi.
Trên thực tế, tâm lý cuồng tín vào đất đai vốn xuất hiện ở cả Trung Quốc hay Nhật Bản. Vậy hai quốc gia này đã xử lý bài toán nan giải ấy ra sao? Trung Quốc dũng cảm chấp nhận những cơn đau kinh tế, để thị trường bất động sản tự điều chỉnh và chìm trong khủng hoảng suốt nhiều năm qua. Trong khi đó, Hàn Quốc từng trải qua giai đoạn áp dụng các biện pháp kiểm soát gần như tuyệt đối nhằm ngăn chặn dòng tiền đầu cơ tài sản. Làm thế nào để dòng tiền nhàn rỗi trong dân chúng chỉ còn lối thoát qua một vài kênh nhất định? Hoặc là đem gửi tiết kiệm để ngân hàng tài trợ vốn cho khối sản xuất, hoặc buộc phải rót thẳng vào các ngành công nghiệp mũi nhọn.
Thực tế cho thấy người dân hay doanh nghiệp không thể tự nhiên thay đổi nhận thức nếu thiếu đi những bàn tay định hướng, nắn dòng vốn. Suy cho cùng, bản năng tự nhiên của dòng tiền là luôn tìm đến con đường dễ dàng nhất. Nhiệm vụ của những người thiết kế luật chơi kinh tế là phải làm sao để phương án dễ dãi ấy trở nên trắc trở, đồng thời tạo đủ động lực để những việc khó khăn nhưng cốt lõi trở nên đáng đầu tư hơn. Đó là câu chuyện của dòng tiền nội địa.
Vậy còn nguồn vốn ngoại đổ từ bên ngoài vào thì sao? Trong suốt nhiều thập kỷ qua, Việt Nam vẫn duy trì sự thận trọng rất lớn, tuyệt đối không thả lỏng cho dòng vốn tự do ra vào như cách các quốc gia phương Tây thường áp dụng. Lý do vì sao? Mời các bạn cho ý kiến nha!