Top pic dành riêng cho các Bé Lá, Mầm. Không dành cho Các Bô lão mắt sáng chân nhanh!

Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội Quý II và 6 tháng đầu năm 2022

Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội Quý II và 6 tháng đầu năm 2022

I. TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

1. Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước

– GDP quý II năm 2022 ước tính tăng 7,72% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn tốc độ tăng của quý II các năm trong giai đoạn 2011-2021[1].

– GDP 6 tháng đầu năm 2022 tăng 6,42%, cao hơn tốc độ tăng 2,04% của 6 tháng đầu năm 2020 và tốc độ tăng 5,74% của 6 tháng đầu năm 2021 nhưng thấp hơn tốc độ tăng 7,28% và 6,98% của cùng kỳ năm 2018 và 2019. Trong mức tăng chung của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,78% (đóng góp 5,07%); khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 7,70%, (đóng góp 48,33%), trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo là động lực tăng trưởng của toàn nền kinh tế với tốc độ tăng 9,66%; khu vực dịch vụ tăng 6,60%, (đóng góp 46,60%).

– Về cơ cấu nền kinh tế 6 tháng đầu năm 2022, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 11,05%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 39,30%; khu vực dịch vụ chiếm 40,63%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 9,02%.

Về sử dụng GDP 6 tháng đầu năm 2022, tiêu dùng cuối cùng tăng 6,06% so với cùng kỳ năm 2021; tích lũy tài sản tăng 3,92%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 9,10%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 4,41%.

2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

a) Nông nghiệp

– Lúa đông xuân: Diện tích gieo cấy cả nước năm nay đạt 2.992 nghìn ha, bằng 99,5% vụ đông xuân năm trước; năng suất ước đạt 66,7 tạ/ha, giảm 1,9 tạ/ha[2]; sản lượng ước đạt 19,97 triệu tấn, giảm 661,3 nghìn tấn.

– Lúa hè thu: Cả nước đã xuống giống được 1.829,5 nghìn ha, bằng 99,5% cùng kỳ năm trước. Vùng Đồng bằng sông Cửu Long đã có 174,4 nghìn ha diện tích lúa hè thu sớm cho thu hoạch, chiếm 12,1% diện tích xuống giống.

– Cây hàng năm: Tính đến trung tuần tháng 6/2022 diện tích gieo trồng rau, đậu là 740,7 nghìn ha, tăng 0,4% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, diện tích ngô, lạc, đậu tương và khoai lang tiếp tục giảm so với cùng kỳ năm trước chủ yếu do hiệu quả kinh tế không cao.

– Cây lâu năm: Tổng diện tích cây lâu năm hiện có ước tính đạt 3.690,4 nghìn ha, tăng 1,4% so với cùng kỳ năm 2021, trong đó: Nhóm cây công nghiệp đạt 2.206,9 nghìn ha, tăng 0,8%; nhóm cây ăn quả đạt 1.177,5 nghìn ha, tăng 2,2%. Sản lượng của một số cây công nghiệp lâu năm, cây ăn quả tăng. Riêng sản lượng điều đạt 321,9 nghìn tấn, giảm 16,5% so với cùng kỳ năm trước do ảnh hưởng của mưa trái mùa trong thời gian ra hoa làm bông điều bị hỏng không kết trái; thanh long đạt 606,8 nghìn tấn, giảm 7,4% do giá bán thanh long giảm nên nông dân giảm diện tích trồng.

– Chăn nuôi phát triển ổn định, chăn nuôi lợn và gia cầm đang hồi phục do dịch bệnh kiểm soát tốt, tổng số lợn đến thời điểm cuối tháng 6/2022 ước tính tăng 3,8% so với cùng thời điểm năm 2021; gia cầm tăng 1,2%; tổng số bò tăng 2,2%; tổng số trâu giảm 1,4%.

b) Lâm nghiệp

Diện tích rừng trồng tập trung 6 tháng đầu năm 2022 ước đạt 119,4 nghìn ha, tăng 3,1% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt gần 47 triệu cây, tăng 6%; sản lượng củi khai thác đạt 9,5 triệu ste, tăng 0,6%; sản lượng gỗ khai thác đạt 8.488,2 nghìn m3, tăng 5,9%. Hoạt động khai thác gỗ 6 tháng đầu năm 2022 tăng chủ yếu do nhu cầu sản xuất, chế biến và xuất khẩu gỗ tăng cao, bên cạnh đó giá xăng dầu leo cao, chi phí vận chuyển lớn nên các doanh nghiệp chế biến gỗ đã chủ động tìm kiếm nguồn nguyên liệu trong nước từ đó thúc đẩy hoạt động khai thác gỗ phát triển. Về thiệt hại rừng, trong 6 tháng đầu năm 2022 cả nước có 588 ha diện tích rừng bị thiệt hại, giảm 24,9% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Diện tích rừng bị cháy 27,7 ha, giảm 88,1%; diện tích rừng bị phá 560,3 ha, tăng 2%.

c) Thủy sản

Nuôi trồng thủy sản tăng trưởng tốt do nhu cầu tiêu dùng và giá xuất khẩu tăng; tuy nhiên sản lượng thủy sản khai thác biển giảm do giá xăng dầu tăng cao, nhiều tàu cá nằm bờ. Sản lượng thủy sản quý II/2022 ước đạt 2.333,3 nghìn tấn, tăng 2,9% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Cá đạt 1.659,3 nghìn tấn, tăng 1,7%; tôm đạt 339,5 nghìn tấn, tăng 11,5%; thủy sản khác đạt 334,5 nghìn tấn, tăng 1,3%. Tính chung 6 tháng đầu năm 2022, sản lượng thủy sản ước đạt 4.196,8 nghìn tấn, tăng 2,5% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Cá đạt 3.044,4 nghìn tấn, tăng 1,7%; tôm đạt 520 nghìn tấn, tăng 9,4%; thủy sản khác đạt 632,4 nghìn tấn, tăng 1,2%.

3. Sản xuất công nghiệp

– Giá trị tăng thêm toàn ngành công nghiệp 6 tháng đầu năm 2022 ước tính tăng 8,48% so với cùng kỳ năm trước (quý I tăng 6,97%; quý II tăng 9,87%). Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,66% (quý I tăng 7,72%; quý II tăng 11,45%), đóng góp 2,58 điểm phần trăm vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế.

– Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) 6 tháng đầu năm 2022 so với cùng kỳ năm trước của một số ngành trọng điểm tăng cao: Sản xuất trang phục tăng 23,3%; sản xuất thiết bị điện tăng 22,2%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 17,5%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 13,1%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 11,4%; khai thác quặng kim loại, sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học cùng tăng 11,2%. Có 61 địa phương có chỉ số IIP tăng, riêng tỉnh Hà Tĩnh và Trà Vinh giảm do ngành sản xuất điện giảm[3].

– Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo 6 tháng đầu năm 2022 tăng 9,4% so với cùng kỳ năm 2021 (cùng kỳ năm 2021 tăng 9,2%).

– Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính tại thời điểm 30/6/2022 tăng 6,1% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 14,1% so với cùng thời điểm năm trước (cùng thời điểm năm trước tăng 29,5%). Tỷ lệ tồn kho toàn ngành chế biến, chế tạo bình quân 6 tháng đầu năm 2022 là 78% (bình quân 6 tháng đầu năm 2021 là 92%).

– Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/6/2022 tăng 1,3% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 5,8% so với cùng thời điểm năm trước.

4. Hoạt động của doanh nghiệp

a) Tình hình đăng ký doanh nghiệp

– Trong tháng Sáu, cả nước có gần 13,3 nghìn doanh nghiệp thành lập mới, giảm 0,7% so với tháng trước; tăng 17,3% so với cùng kỳ năm trước. Cả nước còn có gần 2,3 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 56,7% so với tháng trước và giảm 53,7% so với cùng kỳ năm trước; có 5.129 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, tăng 3,3% và tăng 32,6%; có 5.148 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, tăng 23,0% và giảm 1,7%; có 1.687 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 26,0% và giảm 12,1%.

– Tính chung 6 tháng đầu năm 2022, cả nước có 76,2 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, tăng 13,6% so với cùng kỳ năm trước; gần 40,7 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 55,6%; 50,9 nghìn doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, tăng 43,0%; gần 24,1 nghìn doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, giảm 2,4%; 8,6 nghìn doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, giảm 13,6%. Bình quân một tháng có 19,5 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động và có 13,9 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường.

b) Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo

– Kết quả điều tra trong quý II/2022 cho thấy: Có 78,4% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh ổn định và tốt hơn so với quý I/2022; có 21,6% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn.

– Dự kiến quý III/2022, có 85,0% số doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ ổn định và tốt lên so với quý II/2022; có 15,0% số doanh nghiệp dự báo khó khăn hơn.

5. Hoạt động dịch vụ

a) Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Sáu năm 2022 ước đạt 471,8 nghìn tỷ đồng, tăng 1,4% so với tháng trước và tăng 27,3% so với cùng kỳ năm trước; quý II/2022 ước đạt 1.395,1 nghìn tỷ đồng, tăng 5,5% so với quý trước và tăng 19,5% so với cùng kỳ năm trước; 6 tháng ước đạt 2.717 nghìn tỷ đồng, tăng 11,7% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 7,9% (cùng kỳ năm 2021 tăng 1,9%).

b) Vận tải hành khách và hàng hóa

Vận tải hành khách tháng Sáu khôi phục mạnh mẽ với số lượt hành khách vận chuyển tăng 80,1% và luân chuyển tăng 125,8% do nhu cầu đi lại, du lịch của người dân tăng cao so với cùng kỳ năm trước. Vận tải hàng hóa tiếp tục phát triển tích cực với tốc độ tăng 29% về vận chuyển và tăng 36,3% về luân chuyển so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2022, vận chuyển hành khách tăng 6,2% so với cùng kỳ năm trước, luân chuyển hành khách tăng 15,2% và vận chuyển hàng hóa tăng 8,6%, luân chuyển hàng hóa tăng 16%.

c) Viễn thông

­­­­Doanh thu hoạt động viễn thông quý II/2022 ước đạt 84,4 nghìn tỷ đồng, tăng 7,8% so với cùng kỳ năm trước (nếu loại trừ yếu tố giá tăng 7,1%). Tính chung 6 tháng đầu năm 2022, d­­oanh thu hoạt động viễn thông ước đạt 168,4 nghìn tỷ đồng, tăng 6,6% so với cùng kỳ năm trước (nếu loại trừ yếu tố giá tăng 5,9%).

d) Khách quốc tế đến Việt Nam

Khách quốc tế đến Việt Nam tháng Sáu đạt 236,7 nghìn lượt người, tăng 36,8% so với tháng trước và gấp 32,9 lần so với cùng kỳ năm trước do Việt Nam đã mở cửa du lịch, các đường bay quốc tế được khôi phục trở lại. Tính chung 6 tháng đầu năm 2022, khách quốc tế đến nước ta đạt 602 nghìn lượt người, gấp 6,8 lần so với cùng kỳ năm trước nhưng vẫn giảm 92,9% so với cùng kỳ năm 2019, năm chưa xảy ra dịch Covid-19.

II. ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ, KIỂM SOÁT LẠM PHÁT

1. Hoạt động ngân hàng, bảo hiểm, thị trường chứng khoán

– Tính đến thời điểm 20/6/2022, tổng phương tiện thanh toán tăng 3,3% so với cuối năm 2021 (cùng thời điểm năm 2021 tăng 3,48%); huy động vốn của các tổ chức tín dụng tăng 3,97% (cùng thời điểm năm 2021 tăng 3,13%); tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế đạt 8,51% (cùng thời điểm năm 2021 tăng 5,47%).

– Thị trường bảo hiểm duy trì tốc độ tăng trưởng ổn định, doanh thu phí toàn thị trường bảo hiểm 6 tháng đầu năm ước tính tăng 14% so với cùng kỳ năm trước.

– Trên thị trường cổ phiếu, tính đến ngày 27/6/2022, chỉ số VNIndex đạt 1.202,82 điểm, giảm 7% so với cuối tháng trước và giảm 19,7% so với cuối năm 2021. Tính đến ngày 15/6/2022, mức vốn hóa thị trường cổ phiếu đạt 6.339 nghìn tỷ đồng, giảm 18,4% so với cuối năm 2021; giá trị giao dịch bình quân đạt 19.563 tỷ đồng/phiên, tăng 10% so với tháng trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2022, giá trị giao dịch bình quân đạt 26.649 tỷ đồng/phiên, tăng 0,2% so với bình quân năm trước.

– Trên thị trường trái phiếu, tính đến ngày 15/6/2022, giá trị giao dịch bình quân đạt 7.718 tỷ đồng/phiên, giảm 0,9% so với tháng trước; tính chung 6 tháng đầu năm 2022, giá trị giao dịch bình quân đạt 10.986 tỷ đồng/phiên, giảm 3,7% so với bình quân năm 2021.

– Trên thị trường chứng khoán phái sinh, tính đến ngày 15/6/2022, khối lượng giao dịch bình quân sản phẩm hợp đồng tương lai trên chỉ số VN30 đạt 290.591 hợp đồng/phiên, giảm 9% so với tháng trước; tính chung 6 tháng đầu năm 2022 đạt 197.150 hợp đồng/phiên, tăng 4% so với bình quân năm trước.

2. Đầu tư phát triển

– Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước 6 tháng đầu năm ước đạt 192,2 nghìn tỷ đồng, bằng 35,3% kế hoạch năm và tăng 10,1% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2021 bằng 34,8% và tăng 11,9%).

– Tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam tính đến ngày 20/6/2022 bao gồm: Vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt gần 14,03 tỷ USD, giảm 8,1% so với cùng kỳ năm trước.

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam 6 tháng đầu năm 2022 ước tính đạt 10,06 tỷ USD, tăng 8,9% so với cùng kỳ năm trước, đây là mức tăng cao nhất của 6 tháng đầu năm trong 5 năm qua.

– Đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài trong 6 tháng đầu năm 2022 có 57 dự án được cấp mới giấy chứng nhận đầu tư với tổng số vốn của phía Việt Nam là 300,9 triệu USD, gấp 2,1 lần so với cùng kỳ năm trước[4]; có 14 lượt dự án điều chỉnh vốn với số vốn điều chỉnh tăng 44,9 triệu USD, giảm 88,9%[5].

3. Thu, chi ngân sách Nhà nước

– Lũy kế tổng thu ngân sách Nhà nước 6 tháng đầu năm 2022 đạt 932,9 nghìn tỷ đồng, bằng 66,1% dự toán năm.

– Lũy kế 6 tháng đầu năm 2022, tổng chi ngân sách Nhà nước ước đạt 713 nghìn tỷ đồng, bằng 40% dự toán năm.

4. Xuất, nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ

a) Xuất nhập khẩu hàng hóa

Xuất khẩu hàng hóa

  • Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 6/2022 ước đạt 32,65 tỷ USD, tăng 5,6% so với tháng trước; quý II/2022 ước đạt 96,8 tỷ USD, tăng 21% so với cùng kỳ năm trước và tăng 8,7% so với quý I/2022; 6 tháng ước đạt 185,94 tỷ USD, tăng 17,3% so với cùng kỳ năm trước.

  • Về cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu 6 tháng đầu năm 2022, nhóm hàng công nghiệp chế biến chiếm nhiều nhất với 88,7%.

– Nhập khẩu hàng hóa

  • Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 6/2022 ước đạt 32,37 tỷ USD, giảm 0,8% so với tháng trước; quý II/2022 ước đạt 97,6 tỷ USD, tăng 15,7% so với cùng kỳ năm trước và tăng 11,3% so với quý I/2022; 6 tháng ước đạt 185,23 tỷ USD, tăng 15,5% so với cùng kỳ năm trước.

  • Về cơ cấu nhóm hàng nhập khẩu 6 tháng đầu năm 2022, nhóm hàng tư liệu sản xuất chiếm nhiều nhất với 94%.

– Về thị trường xuất , nhập khẩu hàng hóa 6 tháng đầu năm 2022, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch ước đạt 55,9 tỷ USD. Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch ước đạt 61,3 tỷ USD.

– Cán cân thương mại hàng hóa: Sơ bộ tháng Năm nhập siêu 1,7 tỷ USD[6]; 5 tháng đầu năm xuất siêu 434 triệu USD; tháng Sáu ước tính xuất siêu 276 triệu USD. Tính chung 6 tháng đầu năm 2022, cán cân thương mại hàng hóa ước tính xuất siêu 710 triệu USD (cùng kỳ năm trước nhập siêu 1,86 tỷ USD).

b) Xuất, nhập khẩu dịch vụ

Kim ngạch xuất khẩu dịch vụ 6 tháng đầu năm 2022 ước đạt 4,3 tỷ USD, tăng 81,8% so với cùng kỳ năm 2021; kim ngạch nhập khẩu dịch vụ 6 tháng đầu năm 2022 ước đạt 12,3 tỷ USD, tăng 22,3%. Nhập siêu dịch vụ 6 tháng đầu năm 2022 là 8 tỷ USD (trong đó phí dịch vụ vận tải và bảo hiểm hàng hóa nhập khẩu là 4,6 tỷ USD).

5. Chỉ số giá

a) Chỉ số giá tiêu dùng , chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ

– Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 6/2022 tăng 0,69% so với tháng trước; tăng 3,18% so với tháng 12/2021 và tăng 3,37% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân quý II/2022 tăng 2,96% so với quý II/2021. Bình quân 6 tháng đầu năm, CPI tăng 2,44% so với cùng kỳ năm trước; lạm phát cơ bản tăng 1,25%.

– Chỉ số giá vàng tháng 6/2022 giảm 1,14% so với tháng trước; tăng 7,4% so với cùng kỳ năm 2021; bình quân 6 tháng đầu năm 2022 tăng 6,63%.

– Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 6/2022 tăng 0,72% so với tháng trước và tăng 1,23% so với cùng kỳ năm 2021; bình quân 6 tháng đầu năm 2022 giảm 0,2%.

b) Chỉ số giá sản xuất

– Chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản quý II/2022 tăng 1,84% so với quý trước và tăng 2,18% so với cùng kỳ năm trước; 6 tháng tăng 1,38% so với cùng kỳ năm trước.

– Chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp quý II/2022 tăng 2,1% so với quý trước và tăng 5,11% so với cùng kỳ năm trước; 6 tháng tăng 4,75%.

– Chỉ số giá sản xuất dịch vụ quý II/2022 tăng 1,25% so với quý trước và tăng 3,57% so với cùng kỳ năm trước; 6 tháng tăng 2,83%.

– Chỉ số giá nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu dùng cho sản xuất quý II/2022 tăng 2,23% so với quý trước và tăng 6,38% so với cùng kỳ năm trước; 6 tháng tăng 6,04%.

c) Chỉ số giá xuất, nhập khẩu hàng hóa

– Chỉ số giá xuất khẩu hàng hóa quý II/2022 tăng 3,31% so với quý trước và tăng 8,56% so với cùng kỳ năm trước; 6 tháng tăng 8,03% so với cùng kỳ năm trước.

– Chỉ số giá nhập khẩu hàng hoá quý II/2022 tăng 2,62% so với quý trước và tăng 11,43% so với cùng kỳ năm trước; 6 tháng tăng 11,21%.

– Tỷ giá thương mại hàng hóa[7] quý II/2022 tăng 0,67% so với quý trước và giảm 2,57% so với cùng kỳ năm trước; 6 tháng giảm 2,85%.

III. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI

1. Lao động, việc làm

– Lao động 15 tuổi trở lên của cả nước có việc làm trong quý II/2022 ước tính là 50,5 triệu người; 6 tháng là 50,3 triệu người.

– Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động của cả nước quý II/2022 ước tính là 2,32%; 6 tháng là 2,39%.

– Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên (từ 15-24 tuổi) của cả nước quý II/2022 ước tính là 7,63%; 6 tháng là 7,78%.

– Tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động của cả nước quý II/2022 ước tính là 1,96%; 6 tháng là 2,48%.

– Thu nhập bình quân tháng của lao động làm công hưởng lương quý II/2022 là 7,5 triệu đồng/tháng, tăng 178 nghìn đồng so với quý trước và tăng 707 nghìn đồng so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2022, thu nhập bình quân tháng của lao động làm công hưởng lương ước tính là 7,4 triệu đồng/tháng, tăng 417 nghìn đồng so với cùng kỳ năm trước.

2. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội

Công tác an sinh xã hội được triển khai tích cực, đời sống người dân được đảm bảo, các chính sách hỗ trợ người lao động gặp khó khăn do ảnh hưởng từ dịch Covid-19 theo các Nghị quyết của Chính phủ được thực hiện hiệu quả. Tính đến ngày 15/6/2022, gói hỗ trợ theo Nghị quyết số 68/NQ-CP ngày 01/7/2021 và Nghị quyết số 126/NQ-CP ngày 8/10/2021 đã triển khai được hơn 43,5 nghìn tỷ đồng, cho 36,7 triệu lượt người lao động và gần 381,7 nghìn đơn vị/hộ kinh doanh sử dụng lao động; gói hỗ trợ theo Nghị quyết số 116/NQ-CP ngày 24/9/2021 với tổng mức hỗ trợ gần 38,4 nghìn tỷ đồng cho gần 13 triệu lượt lao động và gần 346,7 nghìn đơn vị/hộ kinh doanh sử dụng lao động; gói hỗ trợ theo Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 30/01/2022 với mức hỗ trợ đạt 14,1 tỷ đồng cho 25.660 lao động của 487 đơn vị sử dụng lao động.

3. Một số lĩnh vực khác

– Tính đến ngày 25/6/2022, cả nước có 23.148 trường đã kết thúc năm học, đạt 88% so với số báo cáo đầu năm; có gần 15,4 triệu học sinh, đạt 85,8% và 712,1 nghìn giáo viên trực tiếp tham gia giảng dạy, đạt 87,6%.

– Trong 6 tháng đầu năm 2022, cả nước có 53.626 trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (29 trường hợp tử vong); 21.859 trường hợp mắc bệnh tay chân miệng (01 trường hợp tử vong); 110 trường hợp mắc bệnh viêm não vi rút (03 trường hợp tử vong); 08 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do não mô cầu và 75 trường hợp sốt phát ban nghi sởi.

– Tính đến ngày 24/6/2022, tổng số liều vắc-xin phòng Covid-19 đã được tiêm là 228.484 nghìn liều, trong đó tiêm mũi 1 là 85.986,1 nghìn liều; tiêm mũi 2 là 78.872,4 nghìn liều; tiêm mũi 3 là 1.509,1 nghìn liều; mũi bổ sung là 14.971,9 nghìn liều; mũi nhắc lại lần 1 là 44.299,8 nghìn liều; mũi nhắc lại lần 2 là 2.844,7 nghìn liều.

– Về thể thao thành tích cao, Việt Nam tổ chức thành công Đại hội thể thao Đông Nam Á lần thứ 31 (SEA Games 31), Đoàn thể thao Việt Nam đã đạt được kết quả ấn tượng, xếp thứ nhất toàn đoàn với 446 huy chương, trong đó có 205 huy chương vàng, 125 huy chương bạc và 116 huy chương đồng, phá 21 kỷ lục của Đại hội ở các nội dung bơi, điền kinh, lặn, xe đạp, cử tạ.

– Trong tháng (từ 15/5 đến 14/6), trên địa bàn cả nước đã xảy ra 951 vụ tai nạn giao thông. So với tháng trước, số vụ tai nạn giao thông tháng Sáu tăng 2,8%; số người chết tăng 8,2%. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông tháng Sáu tăng 15,3%; số người chết tăng 20,4%. Tính chung 6 tháng đầu năm 2022, trên địa bàn cả nước xảy ra 5.684 vụ tai nạn giao thông, làm 3.286 người chết. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông trong 6 tháng đầu năm 2022 giảm 10,4%; số người chết tăng 2,7%. Bình quân 1 ngày trong 6 tháng đầu năm 2022, trên địa bàn cả nước xảy ra 31 vụ tai nạn giao thông, gồm 22 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 9 vụ va chạm giao thông, làm 19 người chết, 11 người bị thương và 9 người bị thương nhẹ.

– Trong 6 tháng đầu năm 2022, thiên tai làm 75 người chết và mất tích; 52 người bị thương; 160,3 nghìn ha lúa và 31,9 nghìn ha hoa màu bị hư hỏng; hơn 176,2 nghìn con gia súc và gia cầm bị chết; gần 8 nghìn ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi và bị hư hỏng. Tổng giá trị thiệt hại về tài sản do thiên tai gây ra trong 6 tháng đầu năm 2022 ước tính hơn 5.422,8 tỷ đồng, gấp 10,6 lần so với cùng kỳ năm trước.

– Có 11.485 vụ vi phạm môi trường trong 6 tháng đầu năm 2022. Trong đó, xử lý 9.704 vụ với tổng số tiền phạt là 130,5 tỷ đồng, tăng 5,8% so với cùng kỳ năm trước.

– Trong 6 tháng đầu năm 2022, trên địa bàn cả nước xảy ra 855 vụ cháy, nổ, làm 48 người chết và 50 người bị thương, thiệt hại ước tính 424,7 tỷ đồng, tăng 47,1% so với cùng kỳ năm trước./.

[1] Tốc độ tăng GDP quý II so với cùng kỳ năm trước các năm 2011-2022 lần lượt là: 6,29%; 5,57%; 5,39%; 6,18%; 7,1%; 6,79%; 6,71%; 7,18%; 7,1%; 0,52%; 6,73%; 7,72%.

[2] Năng suất lúa đông xuân năm nay giảm nhiều do giá phân bón, thuốc bảo vệ tăng cao nên người dân hạn chế đầu tư; bên cạnh đó thời tiết diễn biến thất thường, mưa to và ngập úng ở khu vực Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung từ cuối tháng 3 trở lại đây, xâm nhập mặn vào cuối vụ ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long cũng làm giảm năng suất lúa.

[3] Hà Tĩnh: đang sửa chữa các tổ máy của nhà máy điện Vũng Áng. Trà Vĩnh: Nhà máy điện Duyên Hải giảm sản lượng theo kế hoạch sản xuất của EVN và bảo dưỡng tổ máy.

[4] Vốn đầu tư ra nước ngoài cấp mới 6 tháng đầu năm 2022 tăng mạnh so với cùng kỳ do có 5 dự án lớn mới được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư là dự án Công ty cổ phần giải pháp năng lượng Vines sang Mỹ, Ca-na-da, Pháp, Đức, Hà Lan với tổng vốn đầu tư mỗi dự án từ 34,7 triệu USD trở lên.

[5] Vốn đầu tư điều chỉnh giảm mạnh trong 6 tháng đầu năm 2022 do trong 6 tháng đầu năm 2021 có nhiều dự án lớn điều chỉnh tăng vốn: Dự án của Vingroup tại Hoa Kỳ điều chỉnh tăng 300 triệu USD; dự án Công ty TNHH Đầu tư và phát triển cao su Đông Dương tại Cam-pu-chia tăng 76 triệu USD và 01 dự án của Vinfast tại Đức tăng 32 triệu USD.

[6] Ước tính tháng Năm nhập siêu 1,73 tỷ USD.

[7] Chỉ số giá xuất khẩu hàng hóa so với chỉ số giá nhập khẩu hàng hóa.

7 Likes

29 THÁNG 6, 14:18

Gazprom cung cấp 42,1 triệu m3 khí đốt tới châu Âu qua Ukraine qua Sudzha

Người phát ngôn của Gazprom, ông Sergey Kupriyanov, cho biết đơn đăng ký qua trạm bơm khí Sokhranovka đã bị từ chối.

MOSCOW, ngày 29 tháng 6. / TASS /. Gazprom đang cung cấp khí đốt cho châu Âu thông qua Ukraine với khối lượng 42,1 triệu mét khối mỗi ngày thông qua trạm bơm khí Sudzha, Người phát ngôn của Gazprom Sergey Kupriyanov nói với các phóng viên hôm thứ Tư.

“Gazprom đang cung cấp khí đốt của Nga để vận chuyển qua lãnh thổ Ukraine với khối lượng được phía Ukraine xác nhận thông qua trạm bơm khí Sudzha là 42,2 triệu mét khối tính đến ngày 29 tháng 6. Đơn đăng ký qua trạm bơm khí Sokhranovka đã bị từ chối”, ông nói.

Ngày trước, khối lượng bơm đạt 42,2 triệu mét khối.

Các báo cáo trước đó liên quan đến dữ liệu được công bố trên trang web của Nhà điều hành hệ thống truyền tải khí của Ukraine (GTSOU) cho biết lượng khí đốt của Nga vận chuyển qua lãnh thổ Ukraine có thể đạt tổng cộng 42,1 triệu mét khối vào ngày 29/6.

Vào ngày 10/5, Nhà điều hành hệ thống truyền dẫn khí của Ukraine cho biết họ sẽ ngừng vận chuyển khí đốt đến châu Âu qua nhà ga Sokhranovka bắt đầu từ ngày 11/5 do lý do bất khả kháng vì công ty có thể không kiểm soát được trạm nén khí Novopskov ở Vùng Lugansk. Do đó, các yêu cầu vận chuyển sẽ bị từ chối, và khí đốt sẽ không được chấp nhận.

Tuy nhiên, phía Nga nắm giữ khí đốt không thấy có căn cứ cho việc ngừng bơm theo định dạng trước đó, lưu ý rằng họ không nhận được bất kỳ xác nhận nào về trường hợp bất khả kháng. Công ty nói thêm rằng về mặt công nghệ là không thể chuyển tất cả các khối lượng vận chuyển sang một điểm kết nối khác, trạm phân phối khí Sudzha ở Vùng Kursk của Nga.

Ngoài ra, Gazprom cho biết các lệnh trừng phạt của Nga áp đặt đối với một số công ty năng lượng nước ngoài cấm tổ chức sử dụng đường ống dẫn khí Yamal-Europe để bơm khí đốt của Nga qua Ba Lan.

5 Likes

29 THÁNG 6, 12:25

Ukraine mất tới 16% diện tích đất canh tác - Chính quyền Kherson

Đó sẽ là một tổn thất đáng kể cho bất kỳ nền kinh tế nào, người đứng đầu bộ phận nông nghiệp của vùng Kherson, Igor Grigoryev nhận xét

KHERSON, ngày 29 tháng 6. / TASS /. Sau khi giải phóng các vùng Kherson và Zaporozhye của Ukraine và khu vực Donbass, chính quyền Kiev đã mất tới 16% diện tích đất canh tác, người đứng đầu bộ phận nông nghiệp của vùng Kherson Igor Grigoryev nói với TASS.

"Vùng Kherson thu hoạch tới 3 triệu tấn trong những năm dồi dào nhất. Xét rằng tổng thu hoạch của Ukraine là khoảng 60-70 triệu tấn, nó sẽ tạo ra khoảng 5%. 6% khác được thu hoạch ở Zaporozhye. Các vùng lãnh thổ được giải phóng của Nhân dân Cộng hòa Donetsk và Lugansk chiếm 3-4%. Con số này chiếm 13-16% tổng cộng, theo tôi, sẽ là một tổn thất đáng kể đối với bất kỳ nền kinh tế nào ", Grigoryev nói.

Theo lời của ông, chính quyền Kiev tin rằng họ đã mất 1/4 diện tích đất canh tác.

Thủ tướng Ukraine Denis Shmygal ngày 8/6 báo cáo rằng chiến dịch gieo sạ năm nay được thực hiện tại 75% vùng lãnh thổ được sử dụng trong năm ngoái. Đồng thời, chính phủ phải đối mặt với một số khó khăn trong vụ xuân này, bao gồm nhu cầu xuất khẩu còn lại của vụ thu hoạch năm ngoái, mà theo chính quyền Kiev, lên tới 23,5 triệu tấn. Bên cạnh đó, ngành nông nghiệp của Ukraine lúc này đang phải đối mặt với tình trạng thiếu nhiên liệu.

5 Likes

29 THÁNG 6, 01:57

Các công ty Nga có thể vượt qua giới hạn giá dầu do G7 đề xuất - các chuyên gia

Các nhà phân tích tin rằng, bước đi khả dĩ nhất là buộc các công ty bảo hiểm và chủ tàu phải bảo hiểm và vận chuyển dầu của Nga nếu giá của nó không vượt quá một mức nhất định.

MOSCOW, ngày 28 tháng 6. / TASS /. Các nước G7 có ý định cố gắng hạn chế giá dầu của Nga và thăm dò các lựa chọn như vậy với các quốc gia khác, bao gồm khả năng cấm cung cấp dầu từ đường biển trong trường hợp có bất đồng về giá cả. Các chuyên gia được TASS phỏng vấn tỏ ra nghi ngờ về khả năng đưa ra “giới hạn giá”, tin rằng các nhà cung cấp dầu và khách hàng khác khó có thể ủng hộ khái niệm này.

Theo Reuters, các nhà lãnh đạo của các nước G7 đã nhất trí xem xét các phương án có thể có lệnh cấm vận chuyển dầu của Nga bằng đường biển nếu giá của nó chưa được thống nhất với các đối tác. Trong khi đó, hiệp hội hoan nghênh quyết định của EU trong việc tìm kiếm với các đối tác quốc tế các cách để hạn chế giá năng lượng đang tăng lên, bao gồm cả việc áp dụng hạn chế tạm thời đối với giá nhập khẩu nếu cần thiết.

Các tùy chọn khả thi

Các nhà phân tích tin rằng, bước đi khả dĩ nhất là buộc các công ty bảo hiểm và chủ tàu phải bảo hiểm và vận chuyển dầu của Nga nếu giá của nó không vượt quá một mức nhất định. Về lý thuyết, các công ty dầu mỏ có thể đồng ý với những điều kiện này. Ở đây, chúng ta đang nói về việc hạn chế giá, nhưng không phải là hạn chế nguồn cung cấp. Nhà phân tích hàng đầu của Finam Alexander Potavin tại Finam Alexander Potavin cho biết, điều này không phải là xấu đối với các công ty dầu mỏ của Nga, vì nó có nghĩa là dầu của Nga có thể được giao dịch mà không sợ bị áp đặt các biện pháp trừng phạt thứ cấp.

Tuy nhiên, câu hỏi về mức giá là quan trọng. "Vì phần lớn các tàu chở dầu vận chuyển dầu của Nga thuộc sở hữu của các chủ tàu châu Âu, đặc biệt là các công ty Hy Lạp và Síp, nên ở đây có một đòn bẩy đáng kể. các công ty có thể đồng ý với các điều khoản như vậy trong nhiều trường hợp, do mức chiết khấu của Urals đối với dầu Brent đã vượt quá 30 USD / thùng ", người đứng đầu Trung tâm Phát triển Năng lượng Kirill Melnikov cho biết.

Để thực sự hạn chế nguồn thu của Nga từ xuất khẩu dầu, giới hạn giá nên được đặt dưới mức giá hiện tại của dầu Urals là 80 USD / thùng. "Trong trường hợp này, các doanh nghiệp sẽ bắt đầu tìm kiếm và sẽ sớm tìm cách để vượt qua những hạn chế này - các tàu chở dầu mới với các chủ sở hữu không phải là người phương Tây sẽ được thuê và các công ty bảo hiểm không thuộc phương Tây sẽ tham gia, như đã từng xảy ra trong trường hợp của tàu chở dầu Sovcomflot ", Melnikov giải thích.

OPEC + phản ứng

"Sáng kiến ​​quy định giới hạn giá đối với dầu của Nga có một số chi tiết có thể khiến nó không được thực hiện. Thứ nhất, Nga đã tái tập trung nguồn cung dầu của mình sang các thị trường châu Á. Các vấn đề về giấy chứng nhận an toàn và bảo hiểm của các tàu chở dầu vận chuyển dầu của Nga đang dần được giải quyết. ”Potavin lưu ý.

Ngoài ra, các hạn chế sẽ có ý nghĩa khi phối hợp với các khách hàng lớn khác của các nhà cung cấp dầu và nhiên liệu của Nga. "Không rõ các nhà cung cấp dầu khác sẽ phản ứng như thế nào với ý tưởng giới hạn giá dầu, vì hiện tại biện pháp này đang được thảo luận chỉ liên quan đến nguồn cung của Nga. Có thể các nhà lãnh đạo G7 sau đó sẽ cần thảo luận về khả năng giới thiệu mức trần giá dầu toàn cầu. OPEC + cartel sẽ không hào hứng với ý tưởng này ", ông nói.

"Điều quan trọng cần lưu ý là ý tưởng về ‘giới hạn giá’ chỉ có cơ hội thành công nếu, ngoài các nước phương Tây, những người tiêu dùng dầu lớn khác tham gia. Điều này khó xảy ra. Hơn nữa, nếu ‘giới hạn giá’ rõ ràng là Không có lợi cho Nga, xuất khẩu dầu của nước này ra thị trường thế giới có thể giảm mạnh, gây ra giá tăng đột biến - Nga hầu như không bị thiệt, vì xuất khẩu giảm sẽ được bù đắp bằng giá tăng, trong khi các nước phương Tây sẽ đạt được điều ngược lại với những gì họ muốn ". Melnikov nói thêm.

Potavin tin rằng cơ chế đã thảo luận về hạn chế giá được thiết kế để mở rộng nguồn cung dầu của Nga ra thị trường toàn cầu. Tuy nhiên, nó sẽ yêu cầu thảo luận bổ sung và sửa đổi các lệnh trừng phạt của phương Tây đã có, và Liên minh châu Âu phải mất hơn hai tháng để đồng ý về việc hoãn cấm vận đối với dầu mỏ của Nga.

“Nhìn chung, chúng ta có thể nói rằng ý tưởng hạn chế giá hàng hóa toàn cầu không phải bằng cách thay đổi cán cân cung cầu mà bằng các biện pháp thủ công, là vô lý từ quan điểm kinh tế và không có cơ hội thành công”. Melnikov kết luận.

4 Likes

29 THÁNG 6, 01:28

Eni của Ý vẫn nhận được ít khí đốt của Nga hơn yêu cầu - công ty

Eni nhận được thông báo từ Gazprom về việc nguồn cung khí đốt giảm khoảng 15% vào ngày 15 tháng 6

ROME, ngày 28 tháng 6. / TASS /. Eni tiếp tục nhận khí đốt của Nga với khối lượng giảm, công ty năng lượng Ý nói với TASS hôm thứ Ba.

“Không có gì thay đổi; mọi thứ vẫn như cũ. [Chúng tôi đang nhận được] ít [khí] hơn so với yêu cầu,” công ty cho biết.

Eni nhận được thông báo từ Gazprom về việc nguồn cung cấp khí đốt giảm khoảng 15% vào ngày 15 tháng 6. Gazprom giải thích việc không đủ khối lượng do các vấn đề liên quan đến trạm nén Portovaya, công ty Ý cho biết.

4 Likes

29 THÁNG 6, 00:54

Nguồn cung cấp khí đốt của Nga tới Hungary thông qua tuyến đường phía nam đã được nối lại đầy đủ - Bộ trưởng Ngoại giao

Peter Szijjarto lưu ý rằng độ tin cậy của tuyến đường này vẫn là 100% và Hungary sẽ nhận được chính xác khối lượng khí đốt, được cung cấp bởi một hợp đồng dài hạn được ký kết vào năm ngoái.

VIENNA, ngày 28 tháng 6. / TASS /. Hungary đã bắt đầu nhận được toàn bộ khối lượng khí đốt của Nga sau khi công ty Gazprom nối lại hoạt động bơm qua đường ống TurkStream, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao và Quan hệ Kinh tế Đối ngoại Hungary, Peter Szijjarto thông báo hôm thứ Ba.

Hãng thông tấn MTI cho biết: “Nguồn cung cấp khí đốt tự nhiên từ Nga qua Thổ Nhĩ Kỳ, Bulgaria và Serbia tới Hungary đã tiếp tục trở lại vào thứ Hai từ 7 giờ tối”.

Szijjarto lưu ý rằng độ tin cậy của tuyến đường này vẫn là 100% và Hungary sẽ nhận được chính xác khối lượng khí đốt, được cung cấp bởi một hợp đồng dài hạn được ký kết vào năm ngoái.

Ông nhớ lại rằng do những khó khăn trong việc bảo dưỡng đường ống dẫn khí Nord Stream, khối lượng khí đốt của Nga cung cấp cho châu Âu gần đây đã giảm đáng kể, và điều này ảnh hưởng đến nguồn cung cấp cho Hungary thông qua Áo. Bộ trưởng cho biết hiện chỉ một nửa khối lượng theo hợp đồng được cung cấp thông qua tuyến đường này, nhưng 1,3 triệu mét khối bị thiếu mỗi ngày có thể được bổ sung dễ dàng trên thị trường giao ngay. Ông nói thêm rằng Budapest tiếp tục tham vấn với Gazprom về việc bồi thường khối lượng khí đốt bị thiếu. “Do đó, không có mối đe dọa nào đối với an ninh của nguồn cung cấp cho Hungary”, Bộ trưởng Ngoại giao nhấn mạnh.

4 Likes

28 THÁNG 6, 23:26

Điện Kremlin thấy còn sớm để nói về kế hoạch của G7 thăm dò giới hạn giá dầu và khí đốt của Nga

Trước đó, cơ quan DPA báo cáo trích dẫn các nguồn tin ngoại giao rằng các nước G7 đang nghiên cứu khả năng thiết lập giá biên đối với dầu và khí đốt của Nga

MOSCOW, ngày 28 tháng 6. / TASS /. Người phát ngôn Điện Kremlin Dmitry Peskov từ chối bình luận về ý định của G7 khám phá một lựa chọn để đặt giá biên đối với dầu và khí đốt của Nga.

Người phát ngôn Điện Kremlin trả lời câu hỏi của các phóng viên hôm thứ Ba: “Chúng tôi vẫn chưa biết nó nói về cái gì, vì vậy tôi không nghĩ rằng bất kỳ cuộc thảo luận nào là có thể xảy ra ngay bây giờ”.

Các phóng viên cũng hỏi quan chức Điện Kremlin rằng quyết định này, nếu được thực thi, có thể ảnh hưởng như thế nào đến việc thực hiện các nghĩa vụ xã hội của chính phủ Nga. Trả lời câu hỏi này, Peskov đảm bảo rằng các nhà chức trách đang thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ xã hội của nó.

“Theo hiến pháp của chúng tôi, Nga là một quốc gia xã hội, vì vậy ưu tiên chính là thực hiện mọi nghĩa vụ xã hội”, ông nhấn mạnh.

Trước đó, cơ quan DPA báo cáo trích dẫn các nguồn tin ngoại giao rằng các nước G7 (Đức, Mỹ, Anh, Pháp, Ý, Canada và Nhật Bản) đang nghiên cứu khả năng thiết lập giá biên không chỉ đối với dầu của Nga mà còn đối với khí đốt. Trước đó, người ta biết rằng tại hội nghị thượng đỉnh ở lâu đài Elmau ở Bavaria, các nhà lãnh đạo G7 đã thảo luận về một phương án chỉ giới hạn giá dầu.

Theo một nguồn tin trong chính phủ Đức, biện pháp như vậy nhằm hạn chế nguồn thu của Nga trước tình hình giá cả tăng ở mức thế giới. Theo Bloomberg, có thể đảm bảo điều này bằng cách sử dụng một cơ chế trong đó Nga chỉ có thể ký hợp đồng bảo hiểm và vận chuyển dầu của mình với điều kiện giá của nó không vượt quá mức trần quy định.

Lệnh cấm vận mà EU và Mỹ áp đặt đối với việc mua dầu của Nga đã khiến giá cả tăng vọt, cho phép Moscow chuyển hướng lượng lớn dầu thô sang các thị trường khác, chủ yếu là Ấn Độ và Trung Quốc. Do đó, ngay cả khi bán khối lượng dầu nhỏ hơn, Nga đã tăng doanh thu do các lệnh trừng phạt của phương Tây, trong khi EU và Mỹ chịu thiệt hại ròng, bao gồm cả tác động tràn dưới dạng lạm phát.

4 Likes

28 THÁNG 6, 21:51

Putin ký luật cấm cấp giấy phép cho người nước ngoài sử dụng tài nguyên khoáng sản

Luật cũng quy định rằng công ty Đường sắt Nga nhận được quyền sử dụng các lô đất dưới lòng đất của địa phương để khai thác khoáng sản để xây dựng các tuyến đường sắt Baikal-Amur và xuyên Siberia mà không cần đấu giá.

© Mikhail Metzel / POOL / TASS

MOSCOW, ngày 28 tháng 6. / TASS /. Tổng thống Nga Vladimir Putin đã ký luật cấm cấp giấy phép phát triển tài nguyên khoáng sản cho các công ty nước ngoài. Văn bản đã được công bố trên Cổng thông tin pháp luật chính thức.

Theo quy định của pháp luật, chỉ những pháp nhân được thành lập theo quy định của pháp luật Liên bang Nga, cũng như các doanh nhân cá nhân, là công dân của Nga, mới có thể là người sử dụng tài nguyên khoáng sản quốc gia. Để tiếp tục làm việc tại Nga, các công ty nước ngoài sẽ phải thành lập các pháp nhân tại Liên bang Nga và chuyển giao quyền sử dụng các lô đất dưới lòng đất cho họ. Các giấy phép hợp lệ cho quyền sử dụng đất nền do người nước ngoài nắm giữ sẽ được chuyển giao cho các tổ chức của Nga hoặc trả lại cho quỹ đất nền.

Luật quy định rằng trong vòng 30 ngày kể từ ngày có hiệu lực, pháp nhân nước ngoài phải được thông báo về nhu cầu chuyển giao quyền sử dụng lô đất nền cho pháp nhân Nga. Sau đó, trong vòng 90 ngày, người sử dụng đất nền ở nước ngoài được yêu cầu tạo một pháp nhân theo luật pháp của Liên bang Nga để tiếp tục hoạt động của họ.

Luật cũng quy định rằng công ty Đường sắt Nga nhận quyền sử dụng các lô đất dưới lòng đất của địa phương để khai thác khoáng sản cho việc xây dựng các tuyến đường sắt Baikal-Amur và xuyên Siberia mà không cần đấu giá.

6 Likes

28 THÁNG 6, 21:37

Doanh thu của OPEC từ việc bán dầu tăng 1,7 lần lên 560,6 tỷ USD vào năm 2021

Trữ lượng dầu đã được chứng minh của các nước OPEC năm 2021 giảm 0,04%

MOSCOW, ngày 28 tháng 6. / TASS /. Năm 2021, doanh thu từ việc bán dầu từ 13 quốc gia OPEC đã tăng 1,7 lần so với năm 2020 từ 317,35 tỷ USD lên 560,6 tỷ USD, tổ chức này báo cáo hôm thứ Ba.

Saudi Arabia, nhà sản xuất dầu lớn nhất OPEC, đã tăng doanh thu xuất khẩu dầu lên 1,7 lần lên 202,166 tỷ USD, đây là con số cao nhất trong số các nước của tổ chức này. Doanh thu từ dầu mỏ của UAE cũng tăng 1,7 lần lên 54,595 tỷ USD. Iraq đã tăng doanh thu từ việc bán dầu lên 1,8 lần lên 79,788 tỷ USD, Kuwait - gấp 1,6 lần lên 56,545 tỷ USD.

Đồng thời, lượng dầu xuất khẩu vật chất của các nước OPEC giảm 0,2% xuống 19,66 triệu thùng / ngày. Gần 73%, tương đương 14,24 triệu thùng / ngày, trong tổng lượng cung cấp dầu của các nước trong tổ chức này giảm theo hướng châu Á. Lượng dầu xuất khẩu sang châu Âu đạt khoảng 3,27 triệu thùng / ngày, gần 17% tổng lượng cung.

Dự trữ dầu đã được chứng minh của các nước OPEC trong năm 2021 giảm 0,04% xuống 1,242 nghìn tỷ thùng, tương đương 80,4% dự trữ toàn cầu. Trong khi đó, trữ lượng dầu thế giới vẫn ở mức 1,545 nghìn tỷ thùng.

5 Likes

29 THÁNG 6, 12:19

Các biện pháp trừng phạt chống Nga thúc đẩy khủng hoảng lương thực toàn cầu - đại sứ

Cuộc khủng hoảng có thể được giải quyết “chỉ thông qua việc tiếp cận miễn phí ngũ cốc và phân bón, bao gồm cả của Nga, vào thị trường toàn cầu”, Anatoly Antonov nhấn mạnh

Đại sứ Nga tại Mỹ Anatoly Antonov

© Alexander Shcherbak / TASS

WASHINGTON, ngày 29 tháng 6. / TASS /. Đại sứ Nga tại Mỹ Anatoly Antonov cho biết làn sóng áp đặt các biện pháp hạn chế chống Nga gần đây của phương Tây đối với hoạt động quân sự đặc biệt ở Ukraine đã làm trầm trọng thêm cuộc khủng hoảng lương thực toàn cầu.

"Về vấn đề an ninh lương thực, chính làn sóng hạn chế chống Nga do phương Tây do Mỹ đứng đầu áp đặt đã thúc đẩy cuộc khủng hoảng lương thực toàn cầu. Nguyên nhân sâu xa của nó là các bước đi kinh tế vĩ mô không đủ năng lực của một số quốc gia phát triển, biến đổi khí hậu. và đại dịch COVID-19, "dịch vụ báo chí của sứ quán dẫn lời đại sứ cho biết.

Theo nhà ngoại giao, cuộc khủng hoảng có thể được giải quyết “chỉ thông qua việc tiếp cận miễn phí ngũ cốc và phân bón, bao gồm cả các sản phẩm của Nga, vào thị trường toàn cầu.”

Ngày 24/2, Tổng thống Nga Vladimir Putin đã phát động một chiến dịch quân sự đặc biệt tại Ukraine để đáp lại yêu cầu của lãnh đạo hai nước cộng hòa Donbass. Nhà lãnh đạo Nga nhấn mạnh rằng Moscow không có kế hoạch chiếm đóng các vùng lãnh thổ của Ukraine mà mục tiêu là phi quân sự hóa và phi quân sự hóa đất nước.

Phương Tây đáp trả bằng các biện pháp trừng phạt sâu rộng nhằm vào Nga. Ngoài ra, các nước phương Tây cho đến nay đã cung cấp vũ khí và thiết bị quân sự trị giá hàng tỷ USD cho Kiev. Một số chính trị gia phương Tây đã thừa nhận rằng một cuộc chiến tranh kinh tế đang được tiến hành chống lại Nga. Vào tháng 3, ông Putin cho biết chính sách trừng phạt của phương Tây đối với Moscow đã cho thấy tất cả các dấu hiệu gây hấn, trong đó việc kiềm chế Nga là một chiến lược lâu dài. Ông cũng lưu ý rằng các vấn đề trên thị trường lương thực toàn cầu đã bắt đầu trở lại vào tháng 2 năm 2020. Putin bác bỏ các tuyên bố rằng Nga bị cáo buộc chặn ngũ cốc tại các cảng của Ukraine chỉ là lừa gạt.

5 Likes

Giờ mới gửi ảnh cho HHT được, do kinh nghiệm chụp không vó nên ảnh hơi xấu chút, thông cảm nhé :slight_smile:



IMG_20220628_160835
IMG_20220628_160831

5 Likes

Hi anh! Ảnh đẹp, phong cảnh đẹp quá anh @BAKHA ạ🌻

2 Likes

Nữa nè em, chúc em cùng gia đình một ngày vui vẻ, trẻ khỏe và hạnh phúc nhé .


IMG_20220628_160901


IMG_20220628_160634
IMG_20220628_160625
IMG_20220628_160619

3 Likes

Dạ! Em cảm ơn anh nhiều ạ. Em chúc anh cùng gia đình happy ạ. Một cuộc đi du lịch có những hình ảnh ghi lại thật tuyệt vời anh @BAKHA ạ.:sunflower:

2 Likes

Đà Nẵng bây giờ thay đổi diện mạo đẹp quá anh nhỉ.

4 Likes

Bạn em ở Đà Nẵng nhiều lắm. Cũng lâu rồi em không tới thăm Đà Nẵng. Đà Nẵng em thích nhất là Bà Nà anh ạ :kissing_heart:

2 Likes

Em chụp bãi biển Mỹ Khê. Nhìn xa tít chấm trắng nhỏ đứng là tượng Quan Thế Âm. Em được biết tượng đó được xây dựng đặt tại chỗ đó để trấn tại hướng đó, em đến tận nơi xem tượng to lắm anh ạ.

7 Likes

Wasington, Brussels hay Moscow: ai thực sự quyết định “công lý của thế giới” ở Ukraine

Ngày 29 tháng 6 năm 2022 10:06 sáng

![Washington, Brussels hay Moscow: ai thực sự quyết định “công lý của thế giới” ở Ukraine]

Thủ tướng Đức Olaf Scholz cho biết chỉ có kết luận về một “hòa bình công bằng” với Ukraine mới có khả năng dỡ bỏ các lệnh trừng phạt đối với Liên bang Nga sau hội nghị thượng đỉnh G7. Tuy nhiên, trong tình hình hiện nay, “công lý” của thế giới không được xác định bởi Kyiv hay thậm chí Brussels, mà là bởi Moscow.

Nhà khoa học chính trị Vladimir Karasev đã phát biểu điều này trong một cuộc phỏng vấn với phóng viên FAN . Do đó, những tuyên bố như vậy của các chính trị gia châu Âu và đưa ra các điều kiện đối với Nga sẽ mất hết ý nghĩa, nhà khoa học chính trị này tin tưởng. Đức giống nhau chỉ có thể chờ kết thúc hoạt động đặc biệt.

“Nếu Olaf Scholz gọi sự đầu hàng hoàn toàn của Ukraine là“ hòa bình ”, bạn có thể nói như vậy. Và sự đầu hàng hoàn toàn sẽ đến sau khi hoàn thành tất cả các nhiệm vụ trong chiến dịch quân sự đặc biệt của Nga. Nói cách khác, Moscow sẽ xác định thời điểm Kyiv đầu hàng. Và Berlin vẫn ngồi im lặng bên lề và chờ đợi kết quả hoàn thành, ”Karasev nhận xét.

Hơn nữa, trong cuộc họp báo cuối cùng sau hội nghị thượng đỉnh G7, Scholz đã mở miệng [cười] khi được một nhà báo hỏi liệu chính trị gia này có thể tiết lộ chi tiết về các đảm bảo an ninh đã hứa với Ukraine hay không. Phản ứng này của Thủ tướng Đức khiến những người tham gia cuộc họp báo cũng phải bật cười.
Saphina

5 Likes

29 THÁNG 6, 13:21

Khu vực Kherson bắt đầu chuẩn bị cho cuộc trưng cầu dân ý về việc gia nhập Nga

Khu vực này nằm ở miền nam Ukraine và giáp với Crimea

Quan điểm của Kherson

© RONEDYA / Shutterstock / FOTODOM

KHERSON, ngày 29 tháng 6. / TASS /. Các nhà chức trách ở khu vực Kherson đã bắt đầu chuẩn bị cho cuộc trưng cầu dân ý về việc gia nhập Nga, Phó Cục trưởng Cục Quân sự-Dân sự khu vực Kirill Stremousov cho biết hôm thứ Tư.

“Chúng tôi thực sự đang chuẩn bị cho một cuộc trưng cầu dân ý, và chúng tôi sẽ tổ chức nó. Đáng ngạc nhiên là vùng Kherson sẽ đưa ra quyết định gia nhập Nga và nó sẽ trở thành một thực thể cấu thành chính thức”, ông nói trong một video đăng trên Te.le.gram.

Vùng Kherson nằm ở miền nam Ukraine và giáp với Crimea. Vào giữa tháng 3, Bộ Quốc phòng Nga cho biết quân đội Nga đã kiểm soát hoàn toàn khu vực. Một chính quyền quân sự-dân sự đã được thành lập ở đó vào cuối tháng Tư. Các nhà chức trách khu vực sau đó đã công bố kế hoạch tham gia cùng Nga.

5 Likes

29 THÁNG 6, 15:37

Chuyên gia Triều Tiên đổ lỗi cho NATO ‘mang lại thảm họa cho Đông Âu’

Thủ phạm chính của hoàn cảnh đáng tiếc hiện nay của châu Âu cũng không ai khác chính là Mỹ vì họ đã gieo rắc bất hòa, bất hòa, đối đầu và xung đột ở đó thông qua việc ‘tiến về phía đông’ để bất chấp những lo ngại về an ninh của Nga có hệ thống, Kim Hyo-myung nhấn mạnh

TOKYO, ngày 29 tháng 6. / TASS /. Kim Hyo-myung, một nhà nghiên cứu tại Hiệp hội Nghiên cứu Chính trị Quốc tế của Triều Tiên, cho biết NATO phải chịu trách nhiệm về những diễn biến hiện tại ở Đông Âu, cho biết trong một bài báo do Hãng thông tấn Trung ương Triều Tiên (KCNA) đăng hôm thứ Tư.

“NATO phải chịu trách nhiệm về việc mang đến một thảm họa cho Đông Âu”, ông chỉ ra. "NATO được thành lập với cái gọi là nhiệm vụ bảo vệ châu Âu. ‘Đóng góp’ duy nhất mà khối này đã đóng góp cho hòa bình và an ninh thế giới là sự tàn phá của các quốc gia có chủ quyền, thảm sát hàng trăm nghìn thường dân vô tội và hàng triệu người tị nạn cùng với nó Các cuộc chiến tranh xâm lược trái pháp luật ở châu Âu, Trung Đông và châu Phi, tức là Nam Tư, Iraq, Afghanistan và Libya ", chuyên gia lưu ý.

Theo Kim Hyo-myung, thủ phạm chính gây ra hoàn cảnh đáng tiếc hiện nay của châu Âu không ai khác chính là Mỹ vì họ đã gieo rắc sự bất hòa, bất hòa, đối đầu và xung đột ở đó thông qua việc ‘tiến về phía đông’ để bất chấp những lo ngại về an ninh của Nga có hệ thống.

Nhà phân tích nhấn mạnh rằng một “khái niệm chiến lược mới sẽ được thông qua trong Hội nghị thượng đỉnh NATO sắp tới bao gồm cả việc phản đối Trung Quốc.” "Mỹ và Hàn Quốc ngày càng trở nên thiếu thận trọng hơn trong các động thái quân sự chống lại chúng ta trên Bán đảo Triều Tiên và vùng phụ cận. Tất cả những điều được xem xét, có một dấu hiệu đáng ngại cho thấy những đợt sóng đen ở Bắc Đại Tây Dương sẽ phá vỡ sự im lặng của Thái Bình Dương sớm hơn hoặc sau này, "Kim Hyo-myung nói thêm.

Hội nghị thượng đỉnh NATO đang diễn ra tại thủ đô Madrid của Tây Ban Nha trong hai ngày 28-30 / 6. Các bên dự kiến ​​sẽ thông qua một khái niệm chiến lược mới, xem xét các cách thức để củng cố liên minh và thảo luận về tác động của biến đổi khí hậu đối với lĩnh vực an ninh. Tổng thống Hàn Quốc Yoon Seok-youl và Thủ tướng Nhật Bản Fumio Kishida cũng tham gia hội nghị thượng đỉnh.

6 Likes