Chào cả nhà mình ngày mới
Chúc cả nhà mình một ngày tốt lành

ĐỨC GIÁM MỤC JEAN CASSAIGNE (1895-1973), VỊ TÔNG ĐỒ CỦA NHỮNG NGƯỜI BỊ BỆNH PHONG
Bên cạnh Làng Cùi Di-Linh, tỉnh Lâm Ðồng, có ngôi mộ của Ðức Giám Mục Marie Pièrre Jean Cassaigne (Đức Cha Gioan Sanh), mội nhà truyền giáo Pháp thuộc Hội Thừa Sai Paris (Missionnaire Étrangère de Paris). Ngài là vị sáng lập giáo xứ và làng cùi tại Di-Linh, đã sống và đã chết với đàn chiên đáng thương của ngài ở đấy.
Cha Cassaigne đã được thụ phong Linh Mục năm 1925 tại cơ sở trung ương của Hội Thừa Sai Paris trên (đường) Rue du Bac. Sau đó, nơi ngài nhận nhận nhiệm sở đầu tiên là thí điểm truyền giáo trong một vùng hẻo lánh thuộc quận Di-linh, vào năm 1927. Ngài đã yêu thương những người “Mọi cùi” (tên gọi những người Thượng, cách khinh miệt vào thời bấy giờ), đến độ đã sống giữa họ, tắm rửa, chăm sóc, và yêu thương cho đến khi họ chết. Cha Cassaigne đã kể một câu chuyện rằng có lần Ngài giúp những người cùi thức ăn gồm có gạo, muối, và thịt nai. Trong những người dân nhận quà, có một bà cùi hàng tuần đến lấy phần ăn, nhưng hôm đó không thấy đến. Cha Cassaigne đã đến lều tranh tìm bà thì thấy bà ta sắp chết với mủ nhớt nhầy nhụa, mùi hôi thối nồng nặc xông ra từ mảnh thân héo tàn đáng thương xót nàỵ Cha vội lo dạy bà những điều về Thiên Chúa và hỏi bà ta có muốn Cha rửa sạch những tội lỗi để bà được lên Trời sau khi chết không? Người cùi đáng thương đồng ý được rửa tội và nói với Cha Cassaigne rằng:
“Cau dờng! Ăn rơp kăh dơ mê dỡ ăn gũh rê hơ trồ.” (Ông lớn ơi! Tôi sẽ nhớ đến ông khi tôi ở trên Trời).
Cái chết tội nghiệp nhưng thánh thiện của bà Thượng cùi đã khích động thật sâu xa trong tâm hồn của vị Linh Mục Thừa Saị trẻ tuổi. Câu nói “Tôi sẽ nhớ Cha khi được ở trên Trời” là viên đá đầu tiên được đặt xuống để khởi đầu công cuộc thành lập làng cùi tại Di Linh.
Khoảng gần cuối năm 1927, cha Cassaigne đã bị cơn sốt rét hành hạ lần đầu tiên. Ngài đã nằm li bì, không thể ăn uống trong thời gian một tuần. Sức lực của ngài cạn kiệt và thân hình xanh xao, ngài đã phải trở về Pháp mấy tháng để trị bệnh. Căn bệnh này vẫn tiếp tục lặp đi lặp lại, hành hạ ngài, trong suốt thời gian 14 năm ngài làm mục vụ tại Di Linh.
Cha Cassaigne đã nhanh chóng trở nên thân mật với những người dân tộc bản địa và học được tiếng nói của họ. Vào thời gian này, tiếng dân tộc (Thượng) chỉ là ngôn ngữ nói, chưa có chữ viết. Ngài thường xuyên trò chuyện và lần mò, sáng tạo các phiên âm tiếng dân tộc. Sau đó không lâu, cha đã có thể trò chuyện với họ cách thông thạo, để rồi dịch được một số kinh, bài hát, ra tiếng Thượng. Phương pháp học tiếng K’Ho (đọc là Kờ Ho) của ngài là nghe họ nói vào ban ngày và đến đêm thì ghi lại, biên soạn, để rồi ngài đã có thể cho ra đời một cuốn từ điển bỏ túi với 3 thứ tiếng: ’Ho-Pháp-Việt. Cuốn này được xuất bản lần đầu vào năm 1929. Sau đó, ngài tiếp tục viết và xuất bản cuốn “Phong tục tập quán người dân tộc Kơ Ho” vào tháng 12 năm 1937, cuối cùng là cuốn “Giáo lý cho người Kơ Ho” vào năm 1938.
Năm 1936, họ đạo Công Hinh được thành lập và nhà nguyện của họ đạo được khánh thành vào ngày 15 tháng 8 cùng năm. Đầu năm 1939, cha Cassaigne cùng giáo dân K’Brai đi thăm các làng Kulbum, B’Sout, K’Rot và cho hình thành giáo điểm Kala (nay là giáo xứ Kala, Giáo phận Đà Lạt).
Sau 14 năm coi sóc đồng bào Thượng trong vùng Di Linh, cha Cassaigne đã để lại cho giáo hội Công Giáo địa phương một giáo xứ với 795 giáo dân gồm người Pháp, Kinh, và 218 người Thượng. Tại Công Hinh, có 350 giáo dân, kể cả 78 người Thượng tại làng cùi. Ngoài ra còn có 133 tân tòng đang chuẩn bị lãnh nhận Bí tích Rửa Tội.
Trở lại với khoảng thời gian cuối Thu năm 1928, trong chuyến đi thăm một làng Thượng ở xa, đang băng qua rừng vắng thì bỗng có tiếng chân nhiều người dồn dập từ trong vùng tối âm u, nhiều giọng la ú ớ kêu Ngài dừng lại. Những bóng dáng quái dị xuất hiện như một đoàn ma đói. Thân hình xác xơ, kẻ mất tay, người sứt mũi, miệng chảy nước lòng thòng và tất cả hầu như què quặt. Họ, mặc dù có người khập khiểng, có người vừa bò vừa lết, và đói, vẫn cố đuổi theo cha để rồi bao vây lấy ngài và tất cả cùng gào lên thảm thiết:
“Ơ cau dơng! Ơ cau dơng! Dăn nđàc sơngit bol hi!” (Ới ông lớn! Ới ông lớn! Xin thương xót chúng tôi!)
Rồi tất cả sụp lạy Ngài và khóc rống. Cha Cassaingne vừa sợ hãi, vừa mủi lòng. Thì ra đây là những người cùi bị xóm làng kinh tởm đuổi đi, họ tụ tập thành nhóm ngoài rừng xa, sống lây lất qua ngày để chờ chết. Có lẽ họ đã nghe lời đồn đãi về ông lớn làm thuốc và hay thương giúp người cùi này. Họ chờ Cha trên khúc đường vắng để nhờ Cha giúp đỡ. Vài ngày sau, đó, việc lập làng cùi Di-linh được xúc tiến ngay. Đến tháng tư năm 1929, làng cùi Di-linh chính thức được công nhận. Tổng số bệnh nhân vào ngày khánh thành là 21 người, đến cuối năm 1929, con số đã tăng lên 33.
Cũng trong năm 1929, cha Cassaigne thành lập trường học đầu tiên tại Di Linh, lúc đầu trường chỉ có 2 lớp với 32 học sinh (toàn là người dân tộc Kơ Ho) đặt ở trong khuôn viên nhà thờ.
Ngoài các việc mục vụ thường xuyên, cha Cassaigne còn đóng vai trò hộ sinh, giúp một người mẹ phong cùi sinh con. Khi biết sự việc, Đức Cha Drapier đã trách ngài rằng quá liều lĩnh. Cha giải thích rằng: “Ở đây cả làng không có một y tá hay cô đỡ. Con là người duy nhất có 10 ngón tay lành lặn. Nếu để một người cùi chạm đến thai nhi thì nguy hiểm lắm. Bà sản phụ lại là một bệnh nhân lở loét, không ai dám đến gần”. Công việc ngày càng nhiều, làng phong thêm con cháu, cha đã kêu gọi các nữ tu thuộc dòng Nữ Tử Bác Ái Vinh Sơn giúp cha chia sẻ số phận của người phong và được 3 nữ tu đến hỗ trợ ngài chăm sóc các bệnh nhân.
Tháng 6 năm 1936, cha Cassaigne cử hành nghi thức Rửa Tội cho 46 dự tòng, trong đó có 26 người mắc bệnh phong. Ngài đã mời các nữ tu từ Đà Lạt xuống Di-linh đỡ đầu cho các tân tòng bị bệnh phong. Những Nữ Tử Bác Ái, sau lại thêm các kinh sĩ thánh Âu Tinh (Augustine) dòng Đức Bà vui mừng và hết lòng cộng tác với ngài về tinh thần và vật chất, như mở trường và dạy giáo lý… Nam Phương Hoàng hậu cũng gửi một số tiền để tổ chức lễ Rửa tội cho các tân tòng, bà đã nhiệt tình ủng hộ công việc truyền giáo của ngài hàng năm.
Tại Di-linh, cha Cassaigne từng có dịp trả lời câu chất vấn của một Thanh Tra cao cấp của bộ Thanh Tra Giáo Dục Đông Dương khi ông này đi nhầm đến làng phong, trong lúc ông ấy đang đi săn bắn. Cuộc đối thoại diễn ra khi cha Cassaigne đang băng bó cho một người rụng hết các ngón tay, ngón chân:
Viên Thanh Tra: “Ông có quyền nào mà dám mở nhà điều trị căn bệnh ghê sợ này? Ông xuất thân từ đại học Y Khoa nào?
Cha Cassaigne: “Tôi chỉ là một linh mục nhưng thấy bệnh nhân quá khổ, sống chui rúc trong rừng sâu rồi chết chẳng ai hay biết, nên tôi thấy có bổn phận thương và chăm sóc họ. Nơi đây tôi vừa là giám đốc vừa là y tá, y công, kể cả hộ sinh nữa! Hiện nay có 129 bệnh nhân, tôi phải ngửa tay xin các nhà từ tâm trợ lực mới kéo dài được cuộc sống của họ đến hôm nay.”
Khoảng một tháng sau cuộc trò chuyện này, cha Cassaigne đã nhận được một thùng thuốc do chính Tổng Thanh Tra Bộ Giáo Dục Đông Dương gửi tặng.
Câu chuyện về lòng bác ái bao la của cha Cassaigne đã lan truyền về đến tận quê hương (Pháp) của ngài. Năm 1939, Hàn Lâm Viện Y Khoa Paris đã trao tặng ngài một Huy Chương Bạc cao quý, dù cha chưa bao giờ đặt chân vào một trường y nào.
Trở thành một Giám Mục
Ngày 20 tháng 2 năm 1941, Toà Thánh bổ nhiệm cha Jean Cassaigne Sanh làm giám mục, với tư cách Đại Diện Tông Toà Hạt Đại Diện Tông Tòa Sài Gòn. Sau những ngày do dự, mặc dầu tâm hồn nặng trĩu, ngài đã phải đánh điện qua Rôma: FIAT (Xin vâng!)
Tuy nhiên, thánh giá nặng nề nhất đã đến với Đức Cha Cassaigne vào ngày 23 tháng 6 năm 1943, mới hai năm trong chức Giám Mục. Hôm ấy, cha Bùi Văn Nho đến chúc mừng lễ bổn mạng của Đức Cha (Lễ sinh nhật của thánh Gioan Baotixita, vào hôm sau 24/6), trong khi Đức Cha vừa đọc phiếu kết quả xét nghiệm xác nhận mình bị nhiễm vi trùng Hansen (bệnh phong). Ngài cười và nói: ”Đây là quà lễ quan thầy của tôi.”
Cha Nho sững sờ thốt lên: “Ôi Đức Cha bị nhiễm phong rồi? Ngài lại cười và đáp: “Không phải bị mà là được vì sẽ được về Di-linh với đoàn con! Có đau mới hiểu người đau và biết thương họ nhiều hơn.”
Ngày 19 tháng 12 năm 1954, lễ kỷ niệm ngày thụ phong LM của ngài, trong khi dâng lễ tạ ơn, Đức Cha đã nhận thấy phía phía trên cổ tay một chút có một vết đỏ. Sau khi lễ xong, ngài lấy kim châm vào mà không cảm thấy đau. Đó là dấu hiệu của bệnh phong đã đến thời kỳ trở thành mụn nhọt và phát tán.
Sau đó, ngài đã gửi thư cho Đức Khâm Sứ Tòa Thánh ở Việt Nam và vị Tổng Quyền của Hội Thừa Sai Paris để xin từ chức, và trở về Di-linh. Đầu năm 1955, Tân Giám Mục Simon Hòa Nguyễn Văn Hiền đã được Toà Thánh bổ nhiệm, để thay Đức Cha Cassaigne, làm Giám Mục Tông Toà Giáo Phận Sài Gòn. Còn Đức Cha Cassaigne thì trở lại Di-linh.
Trong khi làm Giám Mục Saigon, Đức Cha Cassaigne đã thuyết trình ở nhiều nơi về sự khủng khiếp của căn bệnh hiểm nghèo này. Ngài thường nói:
“Ở xứ Thượng cũng như hầu hết các xứ vùng nhiệt đới, nơi mà sự ăn ở sạch sẽ và phương pháp vệ sinh ít được lưu ý, thì con số người mắc bệnh cùi khá cao. Khi mà có thể còn làm việc được thì người mắc bệnh cùi vẫn còn được sống chung với gia đình. Nhưng đến khi thân tàn ma dại không làm gì được nữa, nhất là khi các vết ung thối bắt đầu phá miệng lở loét ra, mủ máu vấy đầy khiến những người chung quanh nhờm gớm kinh tởm không chịu được, thì dân làng đưa họ vào rừng, cất cho họ một túp lều tranh để người cùi ở lại đó một mình sống chết sao mặc kệ! Rồi yếu liệt cô đơn trong túp lều hiu quạnh, người cùi không còn sức làm gì nữa để kiếm ăn vì tay chân cụt mất rồi! Họ sẽ chết dần chết mòn một cách thảm khốc, sẽ gục ngã ở một xó kẹt nào đó rồi chết đi vì đói lạnh, mà chẵng có ai hay biết…”
Mỗi lần thuyết trình đến đây, Đức Cha Cassaigne không sao cầm được nước mắt, phần thì thấy thương những người xấu số, phần khác, cõ lẽ ngài cũng cảm thấy lo âu như như đã thấy trước định mệnh sẽ đến với chính mình.
Trở về Di-linh và qua đời
Sau khi trở lại Di-linh, Đức Cha Cassaigne tiếp tục phục vụ bệnh nhân mặc dù bản thân còn mang thêm bệnh sốt rét rừng, lao xương, lao phổi… Nhiều người muốn đưa ngài về Pháp để chữa trị nhưng đều bị ngài từ chối: “Tôi là người Pháp nhưng trái tim tôi là của người Việt Nam. Tôi muốn sống trong đau khổ và chết nơi đây. Việt Nam là quê hương của tôi”. Bệnh cùi của ngài không phát lộ nhiều qua da, nhưng đã tấn công vào hệ thần kinh. Kể từ năm 1970, các bệnh của Đức Cha trở nặng: Sốt rét, cột sống bị gặm nhấm, và đau dạ dày, khiến ngài không thể tiếp nhận cả rượu lễ. Cuối tháng 10 năm 1971, xương đùi của ngài bị gãy và từ thời điểm này, ngài không thể rời giường bệnh.
Đầu năm 1973, Đức Cha lâm vào tình trạng lúc tỉnh lúc mê. Cho đến ngày 31 tháng 10 năm 1973 thì vị thánh nhân với quả tim yêu thương không giới hạn, đã hoàn tất cuộc sống gian lao và nhiều đau đớn trên cõi đời này, thở hơi cuối cùng, để trở về với Đấng Tạo Dựng. Trong tang lễ của ngài, có khoảng trên 3000 người đến viếng. Năm đêm liền, có rất đông người K’Ho, cả bệnh nhân và người khoẻ mạnh, từ các miền rừng núi, buôn làng, cùng về. Họ mặc tang phục trắng, canh thức suốt đêm bên cạnh linh cữu của ngài.
Ước nguyện cá nhân
Đức Giám Mục Jean Cassaigne có ba ước nguyện trong đời:
- Tôi ao ước được bền đỗ,
- Tôi ao ước được đau khổ (vì Chúa và vì anh em)
- Tôi ao ước được an nghỉ giữa các con cái người Thượng của tôi.
(Je ne demande que trois choses: tenir, souffrir, et mourir ici, au milieu de mes Montagnards – I only ask for three things: to hold on, to suffer, and to die here, in the midst of my Montagnards.)
LM. Phaolô Nguyễn Văn Tùng (tổng hợp và dịch qua Anh ngữ


Sao, sao ốc ka nu
Lên 30 sướng tê cả ngài
PVD thị giá cao hơn PET 1.000
Sai sai ta
PVD thị giá cao hơn PET 1.000
Sai sai ta
nói thị giá vì nó lại liên quan PE EPS ROA ROE…
Là các chỉ số PET tốt hơn PVD mà
nên mình nói thị giá chứ không nói vốn hóa
Sao sao
Cái gì
Cái gì nào
Ốc Ka nu
Sao, cái gì, nữa hả
Sai thời điểm …
Ngày Saigon bắt đầu có siêu thị trở lại, đi dạo khu vực bán áo quần, tình cờ gặp một cô U60 cũng đi dạo như mình, cô lựa mấy cái đầm trẻ trung, đi vào phòng thử đồ, rồi lại ra lựa những cái đầm khác. Mới đầu mình nghĩ cô lựa đầm cho con gái tuổi teen đang chờ trong phòng thay đồ. Nói chuyện dăm câu, mới hay người thử đồ là cô. Thời còn đi học, cô ước ao được mặc đầm, nhưng cơm áo gạo tiền đè nặng hai vai. Con cái lớn khôn, có tiền, cô muốn được mặc thử những cái đầm tuổi teen để xem cảm giác thế nào. Cũng chỉ dám mặc thử trong phòng thay đồ của siêu thị rồi bẽ bàng đứng ngắm mình trong gương, dẫu biết là đã quá lứa lỡ thì nhưng cô vẫn thỉnh thoảng lại siêu thị để mặc thử đầm. Cô cười buồn, sai thời điểm rồi con trai, có những điều quá bình thường với người này, nhưng là ước mơ không bao giờ thành sự thật với người khác.
Có lần ghé lại xem một chiếc mô tô phân khối lớn, thấy một chú U70 mân mê từng chi tiết của chiếc xe, rồi leo lên ngồi thử, rồi lại say sưa ngắm. Mình hỏi chú tính mua chiếc xe này phải không. Chú nói thời đôi mươi chú mê mấy chiếc mô tô này lắm mà không có tiền mua, mỗi lần thấy bạn chở người yêu đi trên chiếc xe phân khối lớn rất oai, cả nhóm ai cũng ước ao được như chú kia vậy. Gần nửa thế kỷ trôi qua, có đầy đủ tiền bạc, nhà lầu xe hơi có đủ, nhưng chú không bao giờ có cái cảm giác ngồi trên chiếc mô tô này để chở người yêu đi chơi. Chú nói, lớn tuổi rồi, giờ này mà ngồi lên chiếc xe này chở vợ đi chơi, chỉ làm người ta thấy tội nghiệp và thương hại mình thôi con trai. Mình an ủi chú, bao nhiêu người mơ ước được ngồi xe hơi như chú mà có được đâu, nhưng trong lòng mình biết chú hiểu là đã sai thời điểm rồi.
Đầu năm cấp 2, bỗng nhiên trường mình mời một thầy về dạy nhạc cho học sinh, thầy tướng tá rất nghệ sỹ, một thời thầy là nhạc công trong đoàn văn nghệ tỉnh Bình Thuận. Thầy dạy đúng một học kỳ thì trường không mời nữa vì không có tiền trả lương thầy, sau này có lần mình gặp thầy đi chài lưới bắt cá, thấy thương thầy tàn tạ vì sương gió cuộc đời. Chỉ học một học kỳ thôi, nhưng làm mình thích học đàn lắm, mà làm gì có tiền để học. Thời đó ngày 20/11 hàng năm, trường tổ chức văn nghệ, đội văn nghệ lớp mình lên múa và nhảy điệu tango theo bài hát gì đó có câu “Thương biết bao nhiêu thương chiều Hà Nội”. Thấy các bạn lung linh trên sân khấu, mình lại ước muốn được học nhảy, nhưng cũng không có điều kiện để học. Mấy chục năm sau có điều kiện để học đàn học nhày, thì bẽ bàng đã quá lứa lỡ thì rồi, sai thời điểm.
Hồi nhỏ mình ốm yếu, có lần đi học mình bị người ta bắt nạt, có một anh lớp trên bảo vệ mình, anh biết đánh võ, nên từ đó mình muốn học võ để tự vệ. Thời đó, không có gì giải trí, phim video Hongkong rộ lên, thấy các minh tinh Lương Triều Vỹ, Lưu Đức Hoa, Lê Mỹ Nhàn, Đặng Tụy Văn đóng phim kiếm hiệp, mình cũng mê học võ. Có lần người ta về trường chiếu bộ phim Song hiệp, có chú Khương Đại Vệ và chú Địch Long thời trẻ nhìn rất lãng tữ, mình lại càng mê học võ. Anh trai kế mình cũng thích học võ, và có đi học một thời gian. Một ngày, mình thấy anh buồn bã xếp lại bộ áo quần võ, mình biết lúc đó nhà mình không có tiền cho anh học tiếp, nên mình cũng đành từ bỏ ước mơ. Thời gian qua nhanh như một cơn gió thoảng, đến khi có điều kiện học thì cũng lại quá lứa lỡ thì không còn học được nữa, thêm một lần lại sai thời điểm.
Thời cấp 1, mình thèm uống sữa mà không có tiền mua. Hồi nhỏ, có lần mẹ mình bị bệnh, nằm trong bệnh viện. Nhà mình mua một hộp sữa Ông Thọ cho mẹ, nhưng mẹ chỉ uống một chút xíu rồi gửi về cho mình và em trai mình uống. Trong ký ức còn sót lại, đó là lần đầu tiên mình được uống sữa, và mình vẫn nghĩ rằng sữa Ông Thọ rất đắt tiền. Sau này, có lần đi mua mấy hộp sữa Ông Thọ tặng cho cô bán vé số bị ung thư hay ngồi gần nhà mình, khi tính tiền, mình buột miệng hỏi mà không kịp suy nghĩ gì, sao rẻ quá vậy. Những năm tháng đang tuổi lớn, cần dinh dưỡng, mà lại thiếu thốn, nên mình cứ èo uột, sức khỏe không tốt. Khi có điều kiện, thì uống sữa nhiều hay ăn nhiều lại thấy mệt, tiệc tùng gì mình cũng từ chối hoặc ngồi một chút, giả bộ ra ngoài nghe điện thoại, rồi lặng lẽ ra về. Đã bắt đầu bước vào tuổi ăn nhiều cũng thành sai thời điểm.
Hồi gia đình mình mới chuyển từ Bình Thuận vào Bà Rịa-Vũng Tàu, chị hai mình không được thi đại học được vì nhà chưa có hộ khẩu, nên phải tập tành ra chợ bán hàng để phụ giúp gia đình, còn mình thì ra chợ để phụ chị bán. Ra chợ, thấy người ta bán kẹo bông gòn nhiều màu sặc sở, mình thèm lắm mà không có tiền mua. Có lần một bạn gái trong chợ mua kẹo bông gòn màu hồng, bạn tặng mình một nửa, lần đầu tiên được ăn, mình thấy ngon không thể diễn tả được. Năm 30 tuổi, nhớ lại chuyện xưa, mình mua kẹo bông gòn về ăn, cả một trời kỷ niệm tan vỡ, vì thấy kẹo bông gòn không còn ngon như ngày xưa nữa. Có những món ăn hồi còn nhỏ mình thấy ngon lạ kỳ, nhưng sau này không dám ăn lại, sợ ký ức xưa lại thêm phôi pha. Đã sai thời điểm rồi, thôi thì kỷ niệm xưa chỉ xin giữ ở một góc nhỏ trong tim vậy.
U50, nhìn lại, thấy thanh xuân mình là một chuỗi những chuyện sai thời điểm. Bởi vậy mình chỉ mong ước con mình, có thể không tài giỏi bằng con người ta cũng không sao, không thành công bằng con người ta cũng không sao, nhưng đừng sai thời điểm như mình…
Nam Phan
Hả
Sao sao
Cái gì nữa
PET của cụ Chun đến đoạn lớn nhanh rồi.
Chào cả nhà mình ngày mới
Chúc cả nhà mình một ngày tốt lành

Nay lại canh trên sàn vài line ![]()
Chào cụ chunjunxo ![]()
Hả.! lại nữa
![]()
Ai rồi cũng sẽ khát !
Ai rồi cũng sẽ khác. Cả em - Em cũng vậy PET à.
Anh đừng tìm PET thú của anh ngày xưa nữa. PET thú của anh ngày xưa đã chết rồi.
Niềm tin là một thứ gì đó vô cùng xa xỉ ở cái thị trường này. Một nơi sục sôi tiền. Tôi thấu hiểu các bạn !
Niềm tin là một thứ gì đó xa xỉ giữa chợ người, chợ đời.
xxx : lãi suất cao ngành bán lẻ không triển vọng, dân giờ thắt chặt chi tiêu.
Thường em hay nói : Hãy nói chuyện bằng con số (trong BCTC)
Đầu tư, đầu cơ : ĐỊNH TÍNH & ĐỊNH LƯỢNG
Định tính là cảm xúc yêu ghét, là cảm thấy, cảm nhận là nghe nói, nghe đồn… (có phần cảm tính, mù mờ)
Định lượng : Là nói chuyện bằng con số - chấm hết
Mở BCTC ra mà NÓI CHUYỆN VỚI NHAU BẰNG CON SỐ.
Nhưng em nghe ngoài chợ huyện người ta kháo nhau năm nay kinh tế khó khăn nên người ta không mua AI PHÔN bác ơi !
Ờ…
Niềm tin là một thứ gì đó rất xa xỉ ở cái thị trường này. Một nơi sục sôi tiền. Tôi thấu hiểu các bạn !
Niềm tin là một thứ gì đó xa xỉ giữa chợ người, chợ đời.
Ai rồi cũng sẽ khát !
Ai rồi cũng sẽ khác. Cả em - Em cũng vậy PET à.
Anh đừng tìm PET thú của anh ngày xưa nữa. PET thú của anh ngày xưa đã chết rồi.
Niềm tin là một thứ gì đó vô cùng xa xỉ ở cái thị trường này. Một nơi sục sôi tiền. Tôi thấu hiểu các bạn !
Niềm tin là một thứ gì đó xa xỉ giữa chợ người, chợ đời.
Hai vợ chồng dành dụm ki cóp bao nhiêu năm được mấy chục triệu đồng, tính cuối năm sửa cái nhà. Thấy người ta đánh chứng giàu sang phú quý cũng mon men bắt chuớc, len lén giấu vợ lấy tiền dành dụm mua chứng khoán. Giờ đây mỗi chiều đi làm về nhìn vợ, nhìn con mà chảy nước mắt. Anh xin lỗi em, ba xin lỗi con. Chúng nó ăn hết của conn rồi con ơi…huhu…
Đau đớn, xót xa quá các bác à, muốn khóc mà không khóc được, chuyện là thế này: Sáng sớm thằng cu con đi học xin bố 200 ngàn đóng tiền học, mình bẩu: Học đếch gì mà lắm thế? nói thì nói vậy cũng dúi cho nó 200 ngàn. Hôm nay, mất toi 200 chai vì chứng. Đếch biết thằng nào lấy của mình, chỉ biết là mất hai trăm chai - dĩ nhiên không phải là bia rượu hay Coca gì ở đây cả !!! Ôi cái cuộc đời lày !!!
Ăn vài xu lẻ, cả làng, cả nước, cả Châu Phi đều biết, thậm chí con c.h.ó của nhà ông Năm gặp mình còn quẫy đuôi chờ ăn sái. Cháy 8 cái tài khoản, vợ không biết, con không biết, tám chục con bồ nhí cũng không biết luôn, cả thế gian không ai biết cả trừ cái thằng suốt ngày “anh ơi, nạp tiền vào TK gấp anh nhé, không là bọn em bán thẳng tay đới” - Call margin - Khi cô đơn anh gọi tên em !
Trưa nay, cuối tuần rảnh rang, bật Youtube nghe chương trình “Tuyển Tập truyện ngắn hay” - Ta nằm nghe mà cảm xúc bay bổng dâng trào, ta như lạc vào một thế giới khác mà phải mười mấy năm rồi mới gặp lại. Trong truyện ngắn “Rừng Cao su” có đoạn: Khi người con trai đi vào người con gái giống như cây cạo mủ cứa vào thân cây, mủ tứa ra từng dòng trắng toá…Ôi, ta nói sao mà tác giả tài tình đến thế, lãng mạn đến thế, chắc chắn tác giả phải có trải nghiệm sống và có tâm hồn bay bổng và lãng mạn đến dường nào mới cho ra đời được những áng văn để đời như thế. Chợt bình tâm nghĩ đến anh em chứng khoán quanh năm suốt tháng căng mắt dòm bảng điện, vùi đầu vào các con số chi chít trên báo cáo tài chính, rồi ngấu nghiến, nghiền ngẫm đủ thể loại tin tức vĩ mô, vi mô, rồi phân tích TA, FA… Nghe mà hoa mắt chóng mặt, xây xẩm mặt mày. Một năm có 365 ngày thì số ngày buồn áp đảo số ngày vui. Ngày vui ngắn chẳng tày gang. Vì sao? Sao trăng giề nữa, Uptrend thì ngắn ngủi, Downtrend dài lê thê. Tính toán cụ thể, trừ những ngày lễ tết ra thì một năm chỉ có 42 ngày Uptrend, còn lại 185 ngày Downtrend dài lê thê não nề. Em nói hơi dài lòng lê thê, nhưng chốt lại em chỉ muốn hỏi anh em một câu: 1 năm qua, 2 năm qua, 3 năm qua… Mười năm qua bám sàn, ăn vạ ở sới bạc anh em được gì và mất gì? Bao lâu rồi anh em không ngắm hoàng hôn buông xuống dưới chân bán đảo Sơn Trà? Bao lâu rồi anh em không còn biết đến ánh trăng rằm nơi miền cao nguyên lộng gió trên đỉnh đèo Phượng Hoàng? Hay đơn giản thôi, bao lâu rồi anh em không đọc một cuốn tiểu thuyết kinh điển? Bao lâu rồi anh em lãnh cảm với những vần thơ mà thủa học trò anh em thường mơ mộng? Anh em đã đánh mất một phần đời vì chứng khoán, anh em có nhận ra không?
Tôi luôn thấy một sự phấn khích vô cùng khi đối diện với những điều tĩnh lặng. Giống như khi lướt đi trong chiếc xe êm ru trên con đường quanh co giữa ngàn thông một ngày mưa phùn giăng mỏng. Hay buổi chiều cuối năm từ lầu 68 nhìn xuống thành phố hoàng hôn đầy những ánh đèn nhấp nháy di động trong sự tĩnh mịch vô cùng. Hoặc khi ngồi giữa cả một khán phòng mọi người đột nhiên sững sờ im tiếng trong khi những chỉ số sáng bừng trên bảng điện chứng khoán. Làm việc cực nhọc mà cảm giác như đi chơi, đó chính là đam mê - Anh Chunjunxo chia sẻ. Đến một độ tuổi nào đó, người ta chẳng thể làm gì khác hơn ngoài sự im lặng. Buồn bã cũng im lặng, hân hoan cũng im lặng. Thi thoảng, chỉ muốn ngồi ở một góc quán quen, thấy khổ hạnh nào rồi cũng nhẹ nhàng như mây trời. Cuộc đời cứ thế mà biên niên cô đơn.
Chiều buồn, lục cơm nguội, anh chị đọc chơi Mười lăm năm ấy, biết bao mặn nồng - chan cả nước mắt !!!
Em có biết không?
Mình không cần ba cái danh hão nữa bạn à, nó không làm bụng mình bớt cồn cào. Mình chém vì cơm áo, vì miu sinh, vì đam mê, vì muốn thể hiện bản thân, vì muốn chia sẻ, hay đơn giản nó là tính cách của mình.
Thắng hay thua thì đêm về, một mình bạn trong bóng đêm, bạn vắt tay lên trán: bạn biết, vợ con bạn biết xuân này gia đình bạn có sung túc hay không? Còn ba cái danh ảo, ồn ào, ảo vọng, sĩ diện hảo rồi cũng qua đi như sương khói.
Giờ đi đâu mình cũng khai thật, khai rất nhiều lần là quá khứ 10-15 năm trước tôi từng cháy TK rất nhiều lần. ĐỜI TRADER AI CŨNG TỪNG BÉ THƠ, AI CŨNG TỪNG DẠI KHỜ. Cái nguy hiểm nhất của sới bạc không phải là khiến cho con người ta cháy túi mà nó tạo ra một lớp người sống ảo. Nghe thì rất chua chát, rất cay đắng nhưng ngẫm kỹ sẽ thấy đúng anh chị à. Không chơi chứng ảo, sai thì nhận là sai, đúng thì nhận là đúng, sai thì sửa, sai thì cắt lỗ, chứng khoán là việc cả đời, không việc gì phải xấu hổ, mắc cỡ ngại ngùng e thẹn gì cả.
Cây kim trong bọc lâu ngày cũng lòi ra, không có chuyện tốt khoe xấu che. Không được to mồm: ăn vài xu lẻ thì cả Châu Phi đều biết, cháy tám chục cái tài khoản thì vợ không biết, con không biết, tám chục con bồ nhí cũng không biết nốt, dĩ nhiên là bá tánh, chúng sanh, con nhang đệ tử lại càng không.
Không vẽ ra viễn cảnh mơ mộng cho khách hàng, cho nhà đầu tư… Trước khi mua con nào thì việc đầu tiên là dặn đi dặn lại : Nó mà thủng mốc XYZ là phải cắt lỗ nha anh chị, nhớ nha, nguyên tắc là nguyên tắc, không được lẫn lộn, lập lờ giữa đầu tư & đầu cơ. Không được kẹp bi rồi tìm một tỷ lý do bào chữa, ngụy biện, thủ dâm là đầu tư.
Đánh bạc bịp cùng chứng vịt ung thì không nên câu nệ theo những nguyên tắc thông thường mà nên bồi dưỡng kỹ xảo đánh bạc, khi thua lỗ cố gắng hạn chế tối thiểu rủi ro.
PS1 : 3 năm qua, Chun cứ nhai đi nhai lại ý này với anh em: 5 năm vừa qua (2012 - 2017) có thể ví là tuần trăng mật của TTCK VN. Hàng triệu nhà đầu tư, cũng như các bạn môi giới trẻ mới vào nghề vài năm nay được trời đãi, thời thế đãi, thị trường đãi cho bữa tiệc no nê & thịnh soạn, rồi họ ngộ nhận mình thật giỏi giang & vĩ đại. Thế rồi tuần trăng mật qua đi để lại đống tro tàn.
PS2 : Từng là Admin rất nhiều diễn đàn chứng khoán nhiều năm liền, từ thế hệ đầu tiên của TTCK VN nên mình rất thấu hiểu tâm lý đám đông. So với giờ này năm ngoái hay đầu năm nay, chợ chứng ngày càng thưa vắng người. Những nhà đầu tư non trẻ, những bạn trẻ háu thắng không biết người biết ta, giờ này năm ngoái còn hung hãn lắm, giờ thì đã đi xa, xa mãi về phía mặt trời lặn, đi mãi không về. Trò chơi này khắc nghiệt & tàn nhẫn.
Những dòng này được viết ra bằng sự đánh đổi của những năm tháng tuổi trẻ đầy sương gió !
Niềm tin là một thứ gì đó vô cùng xa xỉ ở cái thị trường này. Một nơi sục sôi tiền. Tôi thấu hiểu các bạn !
Niềm tin là một thứ gì đó xa xỉ giữa chợ người, chợ đời.
Sao ? Cái gì ? Nữa hả
Bác Chun nghĩ thị trường tầm này đã ở vùng đáy trung dài hạn chưa?

