Dự báo tín dụng của các ngân hàng tăng trưởng mạnh trong Q3/2026

, , , , , ,

MBS Research dự báo tăng trưởng tín dụng của nhiều ngân hàng tăng mạnh trong quý 3/2026, đồng thời duy trì khuyến nghị KHẢ QUAN đối với ngành ngân hàng nhờ định giá đã điều chỉnh về vùng thấp hơn trung bình 3 năm và 5 năm, trong khi triển vọng tăng trưởng lợi nhuận năm 2026 của các ngân hàng theo dõi vẫn đạt khoảng 22% so với cùng kỳ.

Riêng trong Q3/2026, MBS dự báo lợi nhuận sau thuế của các ngân hàng niêm yết tăng 19% so với cùng kỳ, chủ yếu nhờ mức tăng trưởng thu nhập lãi thuần và tiết giảm chi phí dự phòng của nhóm ngân hàng quốc doanh. Đồng thời, tín dụng của các ngân hàng tiếp tục được đẩy mạnh và kỳ vọng tăng khoảng 12% so với đầu năm.

Ngân hàng dự báo có tăng trưởng tín dụng mạnh nhất là HDBank (HDB) đạt khoảng 33% so với đầu năm (tăng ~10% so với cuối Q2/2026). Bên cạnh đó, VPBank (VPB) dự báo tăng trưởng tín dụng ~26% so với đầu năm, Techcombank (TCB) 20%, ACB 12,9%; nhóm NHTM Nhà nước đạt 6-10%.

Đối với huy động, theo dự báo của MBS Research, HDB cũng dẫn đầu về tỷ lệ tăng trưởng khả quan lên khoảng 35% so với đầu năm nhằm phục vụ nhu cầu giải ngân lớn và duy trì LDR trong giới hạn. VPB kỳ vọng ~29%, TCB hơn 13%, còn ACB có huy động được dự báo vẫn sẽ chậm hơn đáng kể - đi ngang so với đầu năm và huy động từ giấy tờ có giá vẫn sẽ chiếm phần chủ đạo.

Xét về lợi nhuận trước thuế dự báo trong Q3/2026, HDB dẫn đầu về tỷ lệ tăng trưởng 58% svck, đạt ~7.500 tỷ đồng; VPBank tăng 27% - đạt 11.649 tỷ đồng; TCB tăng 17,5% - đạt 9.700 tỷ đồng. Nhóm NHTM Nhà nước cũng tăng mạnh lợi nhuận, trong đó VCB và CTG tăng 30% svck, đạt 13.800 - 14.500 tỷ đồng, BID tăng 21% lên 9.200 tỷ đồng.

Về hiệu suất sinh lời, HDB tiếp tục dẫn đầu với ROE năm 2026 dự báo 27,3%, CTG 21,7%, MBB 19,2%…

Thông tư 50: Áp lực ngắn hạn giảm, ngân hàng sẽ phải chuẩn bị nguồn vốn dài hạn từ 2028

Thông tư 50/2026/TT-NHNN về các tỷ lệ an toàn trong hoạt động ngân hàng đã chính thức được ban hành với nhiều điểm “dễ thở” hơn so với dự thảo trước đó. Điều này có nghĩa là các ngân hàng sẽ không phải chịu áp lực điều chỉnh thanh khoản quá mạnh trong vài năm tới.

Tuy nhiên, từ năm 2028 trở đi, câu chuyện sẽ thay đổi. Khi các chuẩn mới bắt đầu được áp dụng, những ngân hàng có nguồn vốn ổn định, huy động dài hạn tốt và ít phụ thuộc vào vốn ngắn hạn sẽ có lợi thế hơn.

Điểm đáng chú ý đầu tiên là tỷ lệ LDR, hiểu đơn giản là ngân hàng cho vay bao nhiêu so với lượng tiền huy động được. Hiện nay, mức tối đa là 85%. Theo Thông tư 50, mức trần này sẽ tăng lên 95% khi các quy định mới được áp dụng đầy đủ.

Không chỉ mức trần cao hơn, cách tính cũng thuận lợi hơn. Ngoài tiền gửi của khách hàng, ngân hàng có thể được tính thêm một số nguồn vốn khác như vốn chủ sở hữu, vốn vay nước ngoài hoặc một phần nguồn vốn vay ròng trên thị trường liên ngân hàng. Điều này giúp các ngân hàng có thêm dư địa trong việc quản lý nguồn vốn.

Tuy nhiên, nhà đầu tư không nên hiểu rằng ngân hàng sẽ ngay lập tức có thêm nhiều dư địa để đẩy mạnh cho vay. Từ nay đến tháng 10/2028, mức LDR 85% hiện tại vẫn là giới hạn chính. Vì vậy, tác động của quy định mới lên tăng trưởng tín dụng trong năm 2026–2027 nhìn chung chưa lớn.

Thông tư mới cũng không hoàn toàn là nới lỏng.

Một số nguồn vốn trước đây có thể hỗ trợ tỷ lệ LDR thì nay bị hạn chế hơn. Chẳng hạn, trái phiếu thông thường do ngân hàng phát hành sẽ không còn được tính vào nguồn vốn nếu không đáp ứng điều kiện để được coi là vốn cấp 2.

Ngoài ra, nếu ngân hàng đầu tư nhiều vào trái phiếu doanh nghiệp hoặc sử dụng các hình thức cấp tín dụng khác ngoài cho vay thông thường, những khoản này cũng có thể bị trừ khi tính LDR. Điều này giúp hạn chế việc ngân hàng thay đổi hình thức cấp tín dụng chỉ để làm đẹp các tỷ lệ an toàn.

Vì vậy, tác động giữa các ngân hàng sẽ không giống nhau.

Những ngân hàng có vốn tự có tốt, huy động được nguồn vốn quốc tế hoặc có khả năng tiếp cận thị trường liên ngân hàng thuận lợi sẽ có vị thế tốt hơn. Ngược lại, những ngân hàng phụ thuộc nhiều vào trái phiếu thông thường hoặc có tỷ trọng đầu tư trái phiếu doanh nghiệp cao có thể cần điều chỉnh cơ cấu nguồn vốn nhiều hơn.

Một thay đổi quan trọng khác liên quan đến LCR, có thể hiểu đơn giản là khả năng ngân hàng có đủ tài sản thanh khoản để đáp ứng nhu cầu rút tiền trong ngắn hạn.

So với dự thảo trước đó, yêu cầu này đã được giảm đáng kể. Từ tháng 10/2028, ngân hàng chỉ cần đạt LCR tối thiểu 50%, sau đó tăng dần và đến tháng 10/2033 mới phải đạt 100%.

Trong khi đó, dự thảo trước đây yêu cầu bắt đầu ở mức 70% và đạt 100% từ năm 2031. Như vậy, các ngân hàng có thêm khá nhiều thời gian để chuẩn bị.

Cách tính LCR cũng được điều chỉnh sát hơn với thực tế gửi tiết kiệm tại Việt Nam.

Ví dụ, với tiền gửi còn kỳ hạn trên 30 ngày, nếu khách hàng rút trước hạn chỉ được hưởng lãi suất không kỳ hạn thì khoản tiền gửi đó có thể không bị coi là dòng tiền có nguy cơ rút ra ngay.

Điều này rất quan trọng vì phần lớn tiền gửi tiết kiệm tại Việt Nam có cơ chế tương tự. Nhờ vậy, áp lực phải giữ nhiều tiền mặt hoặc tài sản thanh khoản thấp lợi suất cũng nhẹ hơn so với dự thảo ban đầu.

Vì vậy, tác động lên NIM, tức chênh lệch giữa lãi suất cho vay và chi phí vốn của ngân hàng, trong giai đoạn 2027–2028 được kỳ vọng không quá lớn. Các ngân hàng vẫn phải nâng chất lượng thanh khoản về dài hạn, nhưng quá trình này sẽ diễn ra từ từ hơn.

Điểm nhà đầu tư cần chú ý hơn nằm ở NSFR, tức tỷ lệ đo lường việc ngân hàng có đủ nguồn vốn ổn định để tài trợ cho các tài sản dài hạn hay không.

Từ tháng 10/2028, NSFR phải đạt ít nhất 90%, tăng lên 95% năm 2029 và 100% năm 2030. Đây có thể mới là yêu cầu tạo ra sự phân hóa rõ hơn giữa các ngân hàng trong vài năm tới.

Nguyên nhân là nguồn vốn vay trên thị trường liên ngân hàng có kỳ hạn dưới 6 tháng gần như không được coi là nguồn vốn ổn định khi tính NSFR.

Điều này có nghĩa những ngân hàng đang phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn ngắn hạn từ các ngân hàng khác sẽ phải thay đổi dần cơ cấu huy động.

Một hướng đi dễ thấy là tăng tiền gửi kỳ hạn dài từ khách hàng cá nhân. Tiền gửi từ một năm trở lên có thể được tính là nguồn vốn ổn định ở mức cao hơn. Tuy nhiên, ngân hàng cũng phải chấp nhận trả lãi suất cao hơn để thu hút khách hàng gửi tiền dài hạn, từ đó có thể làm chi phí vốn tăng nhẹ.

Nhìn chung, Thông tư 50 chưa tạo ra áp lực lớn đối với ngành ngân hàng trong ngắn hạn. So với dự thảo trước đó, các yêu cầu đã được nới đáng kể và lộ trình áp dụng cũng dài hơn.

Câu chuyện quan trọng hơn sẽ xuất hiện từ năm 2028. Khi đó, khả năng huy động nguồn vốn ổn định, giảm phụ thuộc vào vốn ngắn hạn và duy trì bảng cân đối an toàn sẽ trở thành yếu tố phân hóa rõ hơn giữa các ngân hàng.

Với nhà đầu tư, bên cạnh tăng trưởng tín dụng và NIM, nên theo dõi thêm cơ cấu tiền gửi, tỷ trọng huy động dài hạn, mức độ phụ thuộc vào thị trường liên ngân hàng và khả năng huy động vốn quốc tế của từng ngân hàng. Đây có thể là những yếu tố ngày càng quan trọng khi các chuẩn thanh khoản mới đi vào thực tế.

Nếu anh/chị đang quan tâm đến nhóm ngân hàng và muốn trao đổi thêm về những ngân hàng có vị thế thuận lợi hơn hoặc chịu nhiều áp lực hơn khi Thông tư 50 được áp dụng, có thể liên hệ với em qua thông tin tại trang tiểu sử để được hỗ trợ trực tiếp.