Góc Nhìn NguyenNghia: Những Điểm Nghẽn Có Thể Gây Khủng Hoảng Trên Thị Trường Cổ Phiếu Việt Nam

, , , , , , , , ,

Góc Nhìn NguyenNghia: Những Điểm Nghẽn Có Thể Gây Khủng Hoảng Trên Thị Trường Cổ Phiếu Việt Nam

Tác giả: nguyennghia

Thị trường cổ phiếu Việt Nam hiện có một đặc điểm rất đáng chú ý: tăng trưởng tín dụng cao, nhu cầu vốn lớn, dư nợ bất động sản tăng và đòn bẩy trên thị trường chứng khoán cũng đang ở quy mô lớn.

Từng yếu tố đứng riêng chưa phải khủng hoảng.

Vấn đề xuất hiện khi chúng nối với nhau.

Một cú sốc tỷ giá có thể tác động đến lãi suất. Lãi suất tác động đến ngân hàng và doanh nghiệp vay nợ. Bất động sản khó khăn lại tác động ngược trở lại ngân hàng. Giá cổ phiếu giảm mạnh kích hoạt margin và khiến cú giảm tự khuếch đại.

Do đó, để tìm nơi có khả năng xảy ra khủng hoảng, tôi không tìm cổ phiếu đơn giản là “đang đắt” hay “nợ nhiều”.

Tôi tìm điểm nghẽn: nơi một điều kiện thay đổi có thể khiến doanh nghiệp không còn duy trì được trạng thái hiện tại.


1. Điểm nghẽn ngân hàng: tín dụng đang chạy nhanh hơn nguồn tiền tài trợ cho tín dụng

Đây là điểm đầu tiên vì ngân hàng chính là hệ tuần hoàn vốn của thị trường Việt Nam.

Bối cảnh hiện tại đáng chú ý. Reuters cho biết khoảng cách giữa tín dụng và tiền gửi của hệ thống ngân hàng Việt Nam đã lên gần 77 tỷ USD. Chính sự thiếu hụt nguồn tiền gửi trong nước đang khiến các ngân hàng tăng huy động và tìm thêm vốn quốc tế. Fitch cũng cảnh báo mục tiêu tăng trưởng cao đang tạo áp lực đáng kể lên hệ thống ngân hàng Việt Nam.

Nhưng tại sao tín dụng tăng nhanh hơn tiền gửi lại đáng lo?

Phải hiểu ngân hàng kiếm tiền như thế nào trước.

Ngân hàng huy động tiền từ người dân và doanh nghiệp, chẳng hạn trả 5% một năm, rồi đem số tiền đó cho người khác vay với 9%.

Khoảng chênh lệch là nguồn tạo lợi nhuận.

Giả sử ngân hàng có 100 đồng tiền gửi và đang cho vay 90 đồng.

Năm sau ngân hàng muốn đẩy dư nợ từ 90 lên 120 đồng nhưng tiền gửi chỉ tăng từ 100 lên 110 đồng.

Ngân hàng tạo thêm 30 đồng tín dụng nhưng chỉ huy động thêm được 10 đồng tiền gửi.

20 đồng còn lại phải kiếm ở nơi khác.

Muốn người dân gửi thêm tiền, ngân hàng có thể phải tăng lãi suất huy động. Nếu vẫn không đủ, họ phải phát hành giấy tờ có giá, vay liên ngân hàng hoặc vay vốn quốc tế.

Những nguồn vốn bổ sung đó có thể đắt hơn nguồn tiền gửi giá rẻ.

Đây là lý do:

tín dụng chạy nhanh hơn tiền gửi → ngân hàng phải cạnh tranh tìm tiền → giá của tiền tăng → chi phí vốn ngân hàng tăng.

Và ngay lập tức xuất hiện điểm nghẽn thứ hai.

Ngân hàng có thể tăng lãi suất cho vay để chuyển phần chi phí tăng thêm sang khách hàng.

Nhưng doanh nghiệp vay 8% còn chịu được chưa chắc chịu được 11%. Người mua nhà vay 7% có thể mua nhà nhưng ở 10–11% lại trì hoãn.

Lãi suất cho vay càng cao, khả năng trả nợ của những người đang có đòn bẩy càng giảm.

Ngân hàng vì vậy bị kẹt:

Không tăng lãi suất cho vay → biên lợi nhuận bị ép.

Tăng lãi suất cho vay → khách hàng yếu đi và nguy cơ nợ xấu tăng.

Báo cáo ngành ngân hàng tháng 5/2026 cũng chỉ ra sự lệch pha giữa tăng trưởng tín dụng và huy động vốn, đồng thời dự báo các ngân hàng tư nhân có thể chịu áp lực NIM từ chi phí vốn cao hơn. Đáng chú ý hơn, tỷ lệ bao phủ nợ xấu toàn ngành đã giảm xuống khoảng 79,7%, mức thấp nhất kể từ 2018 theo báo cáo này.

Như vậy lớp đệm đang không dày lên đúng lúc áp lực nguồn vốn tăng.

Mã nào cần theo dõi?

Không thể chỉ nhìn tín dụng cao rồi kết luận ngân hàng nào sẽ khủng hoảng.

Với TCB, VPB, HDB, MBB, cần đặt bốn biến cạnh nhau: tốc độ tăng tín dụng, chi phí huy động, chất lượng tài sản và mức độ tiếp xúc với các khách hàng sử dụng đòn bẩy cao.

Riêng TCB là ví dụ cho thấy tại sao không được gán rủi ro máy móc. Cuối 2025, tỷ lệ nợ xấu TCB chỉ khoảng 1,07%, trong khi nợ xấu tài trợ chủ đầu tư bất động sản được báo cáo ở mức không đáng kể. Nghĩa là tiếp xúc bất động sản không tự động đồng nghĩa tài sản xấu.

Điểm nghẽn thật sự của ngân hàng không phải “cho vay nhiều”.

Nó là:

Cho vay tăng nhanh → tiền gửi không theo kịp → giá vốn tăng → nhưng ngân hàng không thể tăng lãi suất cho vay mãi mà không làm chính khách hàng của mình yếu đi.

Nếu chi phí vốn và nợ xấu cùng tăng, lúc đó mới đáng báo động.


2. Điểm nghẽn bất động sản: nợ tăng nhanh nhưng tài sản không phải lúc nào cũng biến thành tiền đúng hạn

Đây là điểm nghẽn lớn thứ hai.

Đến cuối tháng 6/2026, tổng dư nợ vay của 77 doanh nghiệp bất động sản niêm yết đã vượt 500.000 tỷ đồng, tăng gần 100.000 tỷ đồng chỉ trong sáu tháng, tương đương gần 25%.

Trong đó khoảng 167.300 tỷ là nợ ngắn hạn và 332.800 tỷ là nợ dài hạn.

Các doanh nghiệp có mức tăng dư nợ lớn thuộc nhóm VHM, KSF, KDH, NVL, KBC, BCM, VPI và CEO.

Con số này đáng quan tâm, nhưng chưa đủ để nói các doanh nghiệp đó nguy hiểm.

Phải giải thích tại sao.

Giả sử một doanh nghiệp bất động sản có:

20.000 tỷ đồng đất và dự án;

5.000 tỷ tiền mặt;

8.000 tỷ nợ.

Nhìn tổng tài sản, doanh nghiệp hoàn toàn có khả năng thanh toán.

Nhưng giả sử trong 12 tháng tới có 4.000 tỷ nợ đến hạn trong khi dự án 20.000 tỷ vẫn chưa hoàn thiện pháp lý.

Ngân hàng và trái chủ không thể nhận “một phần dự án” thay cho tiền.

Doanh nghiệp phải có tiền mặt.

Muốn biến dự án thành tiền phải:

hoàn thiện pháp lý → xây dựng → mở bán → khách hàng thanh toán → tiền mới thực sự quay về.

Nợ lại không chờ quá trình đó.

Ngày đáo hạn tới là phải trả.

Đây chính là lý do một doanh nghiệp giàu tài sản vẫn có thể khủng hoảng thanh khoản.

NVL là trường hợp cần quan sát đặc biệt

Điểm nghẽn của NVL không đơn giản là “nợ cao”.

Nó nằm ở cuộc đua giữa hai chiếc đồng hồ.

Một chiếc đồng hồ là:

tháo pháp lý → xây dựng → bán hàng → thu tiền.

Chiếc còn lại là:

lãi vay → nợ đến hạn → nghĩa vụ trái phiếu → nhu cầu tái cấp vốn.

Nếu chiếc đồng hồ thứ nhất chạy nhanh hơn, NVL phục hồi.

Nếu chiếc thứ hai chạy nhanh hơn, áp lực tài chính quay trở lại.

Đó mới là bản chất vấn đề.

VHM lại hoàn toàn khác

VHM cũng nằm trong nhóm tăng nợ rất mạnh, nhưng không thể vì vậy xếp VHM ngang NVL.

Đến quý II/2026, tổng nợ vay VHM được BSC ghi nhận khoảng 215.400 tỷ đồng, tăng mạnh so với 162.100 tỷ quý trước. Nhưng đồng thời, sáu tháng đầu năm VHM đạt doanh số mở bán khoảng 148.100 tỷ đồng, còn backlog cuối quý II khoảng 196.800 tỷ đồng.

Vinhomes cũng báo lợi nhuận sau thuế sáu tháng khoảng 52.092 tỷ đồng.

Điều đó cho thấy tại sao nợ lớn không đồng nghĩa khủng hoảng.

Phải hỏi nợ đó đứng cạnh khả năng tạo tiền nào.

Với VHM, KDH, KBC, BCM, VPI, CEO, việc dư nợ tăng là tín hiệu yêu cầu phân tích tiếp chứ chưa phải tín hiệu kết luận.

Còn với doanh nghiệp đang tái cấu trúc nghĩa vụ tài chính như NVL, độ nhạy với việc dự án chậm tạo tiền lớn hơn.

Điểm nghẽn bất động sản là:

Nợ có ngày phải trả cố định, còn tài sản không có ngày chắc chắn biến thành tiền.

Khoảng cách giữa hai thời điểm đó càng lớn, rủi ro thanh khoản càng lớn.


3. Điểm nghẽn ngân hàng – bất động sản: nếu người vay yếu đi đúng lúc tài sản thế chấp cũng giảm giá

Đây là nơi hai điểm nghẽn phía trên nối với nhau.

Giả sử ngân hàng cho doanh nghiệp bất động sản vay 700 tỷ đồng và nhận một dự án được định giá 1.000 tỷ làm tài sản bảo đảm.

Doanh nghiệp trả nợ bình thường thì không có vấn đề gì.

Nhưng nếu thị trường bất động sản suy yếu, doanh nghiệp bán hàng chậm và không còn đủ tiền trả nợ, ngân hàng phải nhìn đến tài sản bảo đảm.

Nếu tài sản vẫn bán được 1.000 tỷ, khoản vay 700 tỷ có lớp đệm rất lớn.

Nhưng nếu thị trường giảm và tài sản thực tế chỉ bán được 700 tỷ thì lớp đệm biến mất.

Nếu phải thanh lý gấp với giá 600 tỷ, ngân hàng thậm chí không thu hồi đủ khoản cho vay.

Lúc đó hai lớp bảo vệ cùng yếu đi:

dòng tiền người vay giảm + giá trị tài sản thế chấp giảm.

Đây mới là điều nguy hiểm.

Ngân hàng phải chuyển khoản vay sang nhóm rủi ro cao hơn và trích lập dự phòng.

Mà dự phòng được lấy từ lợi nhuận.

Ví dụ ngân hàng kiếm được 10.000 tỷ trước dự phòng nhưng phải trích thêm 3.000 tỷ để phòng nợ xấu, phần lợi nhuận còn lại lập tức bị giảm mạnh.

Nếu việc này xảy ra trên quy mô lớn, câu chuyện không còn là lợi nhuận một quý.

Nó bắt đầu ăn vào vốn ngân hàng.

Mã nào chịu ảnh hưởng?

Nhóm cần theo dõi là TCB, VPB, HDB, MBB và các ngân hàng có mức tiếp xúc đáng kể với bất động sản, xây dựng, thế chấp nhà ở hoặc khách hàng doanh nghiệp sử dụng nhiều đòn bẩy.

Nhưng một lần nữa, phải nhìn chất lượng khoản vay.

Cho VHM vay để phát triển một dự án đang bán tốt khác hoàn toàn cho một chủ đầu tư không bán được hàng và đang phải đảo nợ.

Do đó không thể chỉ lấy tỷ trọng bất động sản rồi kết luận ngân hàng nào nguy hiểm.

Điểm nghẽn thực sự là:

Nếu người vay mất khả năng tạo tiền đúng lúc tài sản bảo đảm cũng mất giá, ngân hàng mất cả nguồn trả nợ chính lẫn lớp bảo vệ phía sau.

Đó mới là con đường từ khủng hoảng bất động sản sang khủng hoảng ngân hàng.


4. Điểm nghẽn margin: thị trường hiện đang mang một lượng đòn bẩy rất lớn

Đây là điểm nghẽn có khả năng khiến khủng hoảng diễn ra nhanh nhất.

Dữ liệu quý II/2026 cho thấy dư nợ margin tại nhiều công ty chứng khoán đã lên quy mô rất lớn.

SSI khoảng 40.037 tỷ đồng.

HCM khoảng 29.024 tỷ.

MBS khoảng 16.670 tỷ.

VCI khoảng 16.646 tỷ.

VIX khoảng 13.920 tỷ.

Riêng SSI, dư nợ margin tương đương khoảng 98% vốn chủ sở hữu, còn HCM có tổng cho vay giao dịch chứng khoán tương đương gần 198% vốn chủ sở hữu theo số liệu quý II được tổng hợp.

Tại sao điều này tạo điểm nghẽn?

Giả sử nhà đầu tư có 1 tỷ nhưng vay thêm 1 tỷ để mua 2 tỷ cổ phiếu.

Nếu cổ phiếu giảm 10%, danh mục còn 1,8 tỷ.

Nhưng khoản nợ vẫn là 1 tỷ.

Nếu giảm tiếp, phần vốn của nhà đầu tư bị ăn rất nhanh.

Đến một ngưỡng nhất định, công ty chứng khoán yêu cầu nộp thêm tiền.

Nhà đầu tư không có tiền thì phải bán cổ phiếu.

Nếu họ vẫn không bán, công ty chứng khoán bán thay.

Và đây là lúc một vòng phản hồi hình thành:

giá giảm → gọi margin → bán cổ phiếu → giá giảm thêm → tài khoản khác bị gọi margin → bán tiếp.

Đây là lý do margin không nhất thiết gây ra cú giảm đầu tiên.

Nhưng nó có thể biến một cú giảm bình thường thành bán tháo.

Mã nào chịu ảnh hưởng?

SSI, HCM, VCI, MBS, VND, VIX, SHS đều nhạy cảm với một chu kỳ thị trường như vậy, nhưng mức độ khác nhau tùy cấu trúc kinh doanh.

Ví dụ SSI quý II/2026 thu khoảng 1.090 tỷ đồng từ cho vay margin, tăng hơn 31% so với cùng kỳ. Điều đó cho thấy margin đang là nguồn lợi nhuận rất quan trọng khi thị trường thuận lợi.

Nhưng khi thị trường đảo chiều, hai thứ có thể xảy ra cùng lúc:

dư nợ margin co lại → thu nhập lãi giảm;

thanh khoản thị trường giảm → doanh thu môi giới giảm.

Nếu tự doanh đồng thời chịu lỗ, công ty chứng khoán bị tác động từ nhiều phía.

Điểm nghẽn margin là:

Tài sản dùng để bảo đảm khoản vay chính là cổ phiếu — thứ có thể giảm mạnh nhất đúng lúc người cho vay cần bán nó nhất.

Đây là lý do khủng hoảng margin thường xảy ra nhanh hơn khủng hoảng tín dụng ngân hàng.


5. Điểm nghẽn tỷ giá: USD/VND có thể trở thành chiếc khóa của toàn bộ hệ thống

Đây là nơi phải quay lại kiến thức vĩ mô.

Giả sử Việt Nam muốn duy trì lãi suất thấp để hỗ trợ tăng trưởng.

Nếu Mỹ đồng thời duy trì lãi suất cao và USD mạnh, chênh lệch lợi suất trở nên bất lợi cho VND.

Nắm giữ USD trở nên hấp dẫn hơn tương đối.

Áp lực USD/VND tăng.

Nếu VND giảm quá nhanh, hàng nhập khẩu trở nên đắt hơn và áp lực lạm phát xuất hiện.

Khi đó khả năng tiếp tục dùng lãi suất thấp để hỗ trợ nền kinh tế bị hạn chế.

Vì vậy:

USD mạnh → áp lực VND → không gian duy trì tiền rẻ giảm → chi phí vốn trong nước khó giảm.

Đây là lý do tỷ giá có thể trở thành chiếc khóa đối với toàn bộ chuỗi tín dụng.

Và một số doanh nghiệp còn chịu thêm tác động trực tiếp.

Giả sử doanh nghiệp nợ 100 triệu USD.

Tỷ giá 25.000 đồng tương đương khoản nợ 2.500 tỷ đồng.

Nếu USD lên 27.500 đồng, cùng 100 triệu USD đó tương đương 2.750 tỷ.

Không vay thêm một USD nào nhưng nghĩa vụ quy đổi đã tăng 250 tỷ đồng.

Nhóm cổ phiếu nào nhạy cảm?

VJC và HVN đáng theo dõi vì hàng không có nhiều khoản chi bằng ngoại tệ, từ nhiên liệu, thuê và mua máy bay đến dịch vụ quốc tế.

Các doanh nghiệp vay ngoại tệ nhưng phần lớn doanh thu bằng VND cũng cần được kiểm tra riêng.

Nếu doanh nghiệp xuất khẩu và thu USD, tác động lại khác vì doanh thu ngoại tệ tạo ra một lớp phòng vệ tự nhiên.

Do đó không phải “USD tăng = tất cả doanh nghiệp nợ USD đều xấu”.

Phải nhìn hai phía của bảng tiền:

thu bằng đồng gì và trả bằng đồng gì.

Điểm nghẽn là:

Kiếm tiền bằng VND nhưng có nghĩa vụ lớn bằng USD.

Nếu USD và dầu cùng tăng, hàng không có thể chịu đồng thời hai cú ép: tỷ giá và nhiên liệu.


6. VIC – VHM: điểm nghẽn không phải thiếu tài sản mà là quy mô nhu cầu vốn

Đối với VIC và VHM, cách phân tích phải khác NVL.

VHM hiện có khả năng tạo doanh thu và lợi nhuận rất lớn. Như đã nói ở trên, sáu tháng đầu 2026 VHM báo lợi nhuận sau thuế hơn 52.000 tỷ đồng, trong khi backlog gần 197.000 tỷ đồng.

Nhưng nợ vay cũng tăng rất nhanh khi doanh nghiệp triển khai các dự án quy mô lớn.

Tại sao một doanh nghiệp lợi nhuận lớn vẫn cần theo dõi nợ?

Bởi lợi nhuận kế toán và tiền cần cho đầu tư là hai khái niệm khác nhau.

Một dự án mới có thể cần bỏ hàng chục nghìn tỷ tiền đất và xây dựng trước khi bắt đầu tạo dòng tiền nhiều năm sau.

Nếu một hệ sinh thái tạo được 70.000 tỷ tiền nhưng đồng thời cần đầu tư 100.000 tỷ, 30.000 tỷ còn thiếu vẫn phải được huy động.

Nguồn đó có thể đến từ vay nợ, phát hành vốn, đối tác hoặc bán tài sản.

Khi thị trường vốn thuận lợi, đây là bài toán tài trợ bình thường.

Nhưng nếu lãi suất tăng mạnh hoặc thị trường vốn đóng lại, số vốn cần huy động trở nên đắt và khó kiếm hơn.

Vì vậy với VIC/VHM, câu hỏi quan trọng không phải:

“Có nhiều tài sản không?”

Mà phải hỏi:

Mỗi năm hệ sinh thái tự tạo bao nhiêu tiền, cần đầu tư thêm bao nhiêu tiền và phần chênh lệch được tài trợ bằng cách nào?

Điểm nghẽn của nhóm này là:

Quy mô đầu tư càng lớn thì khả năng tiếp cận vốn càng trở thành một phần của mô hình kinh doanh.

Đây không phải kết luận VIC hay VHM đang khủng hoảng. Ngược lại, số liệu VHM hiện tại cho thấy khả năng tạo lợi nhuận và backlog rất lớn.

Nó chỉ cho biết điều kiện nào phải thay đổi thì rủi ro mới tăng mạnh: giá vốn tăng, dòng tiền dự án chậm lại và nhu cầu đầu tư vẫn duy trì cao cùng lúc.


7. Những mã nào thực sự nằm gần các điểm nghẽn nhất?

Nếu gom toàn bộ hệ thống lại, tôi sẽ không xếp cổ phiếu theo kiểu “nguy hiểm nhất đến an toàn nhất”, mà theo loại khủng hoảng mà chúng nhạy cảm.

NVL: điểm nghẽn nằm ở thời gian biến dự án thành tiền so với thời gian phải thực hiện nghĩa vụ tài chính. Đây là một trong những mã cần theo dõi sát nhất nếu thị trường bất động sản hoặc tín dụng lại xấu đi.

VHM, KDH, KBC, BCM, VPI, CEO: dư nợ tăng đáng kể trong nửa đầu 2026. Nhưng phải phân tích khả năng tạo dòng tiền và mục đích vay của từng doanh nghiệp trước khi đánh giá rủi ro.

TCB, VPB, HDB, MBB: nhạy cảm với chu kỳ tín dụng – huy động – chất lượng tài sản. Rủi ro lớn chỉ xuất hiện khi chi phí vốn và nợ xấu cùng tăng, không phải đơn giản vì tăng tín dụng.

SSI, HCM, VCI, MBS, VND, VIX, SHS: nhạy cảm với thanh khoản và đòn bẩy thị trường. Trong đó SSI và HCM hiện có quy mô cho vay chứng khoán đặc biệt lớn.

VJC, HVN: nhạy cảm với USD và chi phí đầu vào bằng ngoại tệ.

VIC/VHM: nhạy cảm với giá vốn nếu quy mô đầu tư tiếp tục lớn; tuy nhiên phải đặt cạnh khả năng tạo tiền và tài sản chứ không thể chỉ nhìn tổng nợ.

Nhưng rủi ro lớn nhất đối với thị trường Việt Nam không nằm ở một mã riêng lẻ.

Nó nằm ở khả năng các điểm nghẽn khóa lại cùng lúc.

Hãy hình dung một kịch bản.

USD tăng mạnh trước.

VND chịu áp lực.

Để tỷ giá không mất kiểm soát, dư địa duy trì lãi suất quá thấp giảm xuống.

Lãi suất huy động tăng.

Ngân hàng phải trả nhiều tiền hơn để có vốn.

Lãi suất cho vay khó giảm.

Doanh nghiệp bất động sản đang cần tái cấp vốn lại gặp tiền đắt.

Bán nhà chậm khiến dòng tiền yếu.

Một số khoản vay chuyển thành nợ xấu.

Ngân hàng tăng dự phòng.

Cổ phiếu ngân hàng và bất động sản giảm.

Nhưng thị trường đang có lượng margin lớn.

Giá giảm kích hoạt call margin.

Nhà đầu tư bị ép bán.

Giá giảm thêm.

Tài sản thế chấp trên thị trường chứng khoán giảm giá, tâm lý phòng thủ lan rộng và thanh khoản biến mất.

Lúc đó chúng ta không còn một vấn đề riêng của USD, ngân hàng, bất động sản hay chứng khoán nữa.

Chúng đã nối thành một vòng phản hồi:

USD → tỷ giá → lãi suất → ngân hàng → bất động sản → nợ xấu → cổ phiếu → margin → bán tháo.

Đây mới là thứ tôi gọi là một Cao Điểm Vĩ Mô của thị trường Việt Nam.

Một doanh nghiệp thường có thể chịu được một điểm nghẽn.

Một hệ thống cũng có thể chịu được một cú sốc.

Khủng hoảng thực sự thường bắt đầu khi cú sốc thứ hai xuất hiện trước khi điểm nghẽn thứ nhất kịp được giải phóng.

Tác giả: nguyennghia

2 Likes

Ồ bài viết hay. Góc nhìn sắc. Cảm ơn bạn nhé!

1 Likes

Mình có điểm này muốn hỏi bác chút: Margin cao nhưng mình thấy khác biệt so với các đợt kỷ lục trước là khớp lệnh HoSE chỉ còn 13–14 nghìn tỷ/phiên, giảm nửa so cùng kỳ — nếu là dân cá nhân full đòn bẩy như ví dụ 1 tỷ vay 1 tỷ thì tiền đó đâu, sao không chạy trên bảng điện? hôm trước mình có đọc được ở đâu đó nhận định phần lớn margin là cho vay theo deal, doanh nghiệp thế chấp cổ phiếu vay qua CTCK lãi 13–15%/năm vì khó vay bank — nếu điều này đúng thì thực chất margin hiện tại đang là tín dụng doanh nghiệp đội lốt margin. KHi đấy, đúng là Rủi ro vẫn còn nhưng đổi hình thái và đổi chuỗi lan: không phải vòng xoáy call margin lan nhanh theo giá, mà là rủi ro tập trung ở vài mã vốn hóa lớn làm tài sản đảm bảo. Với nhận định như trên, thì Margin có còn là điểm nghẽn và một cơ chế kích hoạt bán tháo như nhận định?

1 Likes

Cảm ơn bạn, câu hỏi này rất đáng chú ý. Theo tôi, nhận định của bạn đúng ở điểm quan trọng nhất: nếu dư nợ margin rất cao nhưng thanh khoản khớp lệnh chỉ còn 13–14 nghìn tỷ đồng/phiên, thì không nên mặc định toàn bộ số dư nợ đó là tiền nhà đầu tư cá nhân vay để mua cổ phiếu và đang luân chuyển trên bảng điện.

Tuy nhiên, tôi vẫn xem đây là một điểm nghẽn và thậm chí thanh khoản thấp còn khiến điểm nghẽn này đáng quan tâm hơn. Lý do là khi khoản vay vẫn bình thường, số cổ phiếu thế chấp không cần được giao dịch nên chúng ta không nhìn thấy số tiền đó trên bảng điện. Nhưng nếu giá cổ phiếu thế chấp giảm đến mức bên vay phải bổ sung tài sản mà không bổ sung được, bên cho vay sẽ phải giảm dư nợ hoặc xử lý tài sản bảo đảm. Lúc ấy, một lượng cổ phiếu rất lớn lại phải tìm người mua trên một thị trường chỉ giao dịch 13–14 nghìn tỷ đồng mỗi phiên.

Điểm nghẽn hiện nay có lẽ không đơn thuần là “margin quá cao”, mà chính xác hơn là lượng tín dụng lớn được bảo đảm bằng cổ phiếu trong khi thanh khoản thực tế của thị trường đang thấp.

Bình thường nó có thể nằm im và gần như không nhìn thấy trên bảng điện. Nhưng nếu đúng tài sản bảo đảm của một deal lớn giảm sâu, chính thanh khoản thấp sẽ quyết định việc xử lý vài nghìn tỷ cổ phiếu dễ trở thành một vòng bán ép giá.

1 Likes

Tổng tài sản tại VN là nó tính cả lãi vay ngân hàng từ hồi nó mới đẻ ra .

1 Likes

Giờ tìm hiểu xem tiền vốn và tiền của dân gửi vô cho ngân hàng nó đi đau rồi,mà tại sao nó đi rồi ko quay về đc mà phải mở két sắt dùm tới tiền dưỡng già ra cho vay tiếp,thế lỡ tiền dưỡng già này nó ra đi rồi lại ko quay về như 2 thằng kia thì thắt cổ khỏi ăn?

1 Likes

Cảm ơn bạn đã chia sẻ