Lợi nhuận quý II/2026 của Techcombank lập kỷ lục, trong khi CASA, NIM và thu nhập dịch vụ cùng cải thiện, củng cố vị thế nổi bật so với mặt bằng ngành.
Ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam (mã chứng khoán: TCB) ghi nhận lợi nhuận trước thuế quý II/2026 đạt 9.670 tỷ đồng, tăng 22,4% so với cùng kỳ và 9% so với quý trước. Đây là mức lợi nhuận theo quý cao nhất trong lịch sử hoạt động của ngân hàng.
Lũy kế 6 tháng đầu năm, lợi nhuận trước thuế đạt 18.540 tỷ đồng, tăng 22,5% và hoàn thành 49,4% kế hoạch năm ở mức 37.500 tỷ đồng. Tổng thu nhập hoạt động đạt 28.616 tỷ đồng, tăng 17,5%, trong đó thu nhập lãi thuần đạt 20.285 tỷ đồng, tăng 16,3%.
Riêng quý II, thu nhập lãi thuần đạt 10.763 tỷ đồng, tăng 17,8% so với cùng kỳ. Cùng với đó, chi phí dự phòng rủi ro tín dụng giảm 35,7% xuống 652 tỷ đồng, góp phần đưa tốc độ tăng lợi nhuận lên cao hơn mức tăng của tổng thu nhập.
Chất lượng tài sản tiếp tục được duy trì ở vùng tích cực. Tại ngày 30/06/2026, tỷ lệ nợ xấu của TCB ở mức 1,15%, giảm nhẹ so với cuối quý trước; nếu loại trừ ảnh hưởng từ CIC, tỷ lệ nợ xấu còn 1,06%. Tỷ lệ bao phủ nợ xấu đạt 125,5%, cao hơn đáng kể so với mức bình quân 75,8% của nhóm 27 ngân hàng niêm yết, qua đó cho thấy bộ đệm dự phòng của TCB duy trì ở mức tích cực so với mặt bằng ngành.
TCB nằm trong nhóm có chất lượng tài sản tốt nhất ngành
CASA dẫn đầu, NIM phục hồi ngược xu hướng nhiều ngân hàng
Lợi thế nổi bật đầu tiên của TCB nằm ở tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn. Tại cuối quý II/2026, CASA, bao gồm số dư Sinh lời tự động, đạt 38,3% tổng tiền gửi khách hàng, tương ứng 267.000 tỷ đồng, tăng 10,1% so với cùng kỳ.
Tiền gửi khách hàng đạt 697.400 tỷ đồng, tăng 18,4% so với cùng kỳ và 4,8% so với đầu năm. Trong đó, CASA doanh nghiệp tăng 23% từ đầu năm, bù đắp một phần cho mức giảm 14% của CASA cá nhân khi khách hàng chuyển tiền sang các sản phẩm có kỳ hạn.
Dù thấp hơn mức 41,1% cùng kỳ năm trước, CASA của TCB vẫn thuộc nhóm cao nhất hệ thống. Trong nhóm so sánh, MB ở quanh 33%, Vietcombank khoảng 32,9%, còn phần lớn ngân hàng tư nhân khác phổ biến dưới 25%.
Khoảng cách này mang lại lợi thế đáng kể khi chi phí huy động toàn ngành gia tăng. Tỷ trọng vốn không kỳ hạn cao giúp TCB có thêm lớp đệm để kiểm soát chi phí đầu vào, đồng thời hỗ trợ khả năng phục hồi biên lãi.
NIM riêng quý của TCB tăng từ 3,1% trong quý I lên 3,4% trong quý II, còn NIM trượt 12 tháng duy trì ở mức 3,6%. Đây là diễn biến nổi bật trong bối cảnh biên lãi tại nhiều ngân hàng vẫn chịu sức ép; chẳng hạn, NIM 12 tháng của ACB giảm còn khoảng 2,92%, thấp hơn 31 điểm cơ bản so với cùng kỳ.
Sự khác biệt đến từ nền CASA cao, khả năng tái định giá tài sản và cơ cấu tín dụng linh hoạt. Lợi suất cho vay của TCB trong quý II tăng từ 7,9% lên 8,9%, giúp mức sinh lời trên tài sản cải thiện nhanh hơn tốc độ tăng của chi phí vốn.
Tín dụng ngân hàng riêng lẻ tăng 14,3% so với đầu năm nếu tính cả các khoản cho vay hạ tầng và nhà ở xã hội được loại trừ khỏi hạn mức; nếu không tính các khoản này, mức tăng đạt 11,6%. Trên cơ sở hợp nhất, tín dụng cá nhân và doanh nghiệp nhỏ và vừa đạt 407.000 tỷ đồng, tăng 9,4%, trong khi tín dụng doanh nghiệp đạt 542.400 tỷ đồng, tăng 20% từ đầu năm.
Cơ cấu tín dụng cũng dịch chuyển sang những phân khúc có lợi suất tốt hơn. Cho vay tín chấp tăng 40%, dư nợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng 28%, cho vay ký quỹ tăng 17,5%, còn cho vay lĩnh vực xây dựng tăng 56,3% lên 41.300 tỷ đồng.
Dư địa tăng trưởng được hỗ trợ bởi tỷ lệ an toàn vốn 15%, tỷ lệ cho vay trên huy động ở mức 80,1% và tỷ lệ vốn ngắn hạn sử dụng cho vay trung, dài hạn ở mức 27,8%. Các chỉ số này cho thấy TCB vẫn duy trì bộ đệm vốn tương đối lớn trong khi mở rộng quy mô tín dụng.
Thu nhập dịch vụ tăng nhanh, giảm phụ thuộc vào tín dụng truyền thống
Lợi thế thứ ba của TCB nằm ở quy mô và tốc độ tăng trưởng của nguồn thu dịch vụ. Trong 6 tháng đầu năm 2026, lãi thuần từ hoạt động dịch vụ đạt 6.811 tỷ đồng, tăng 73,1% so với cùng kỳ, đưa ngân hàng lên vị trí dẫn đầu ngành về quy mô thu nhập từ mảng này.
Riêng quý II, lãi thuần từ dịch vụ đạt 3.662 tỷ đồng, tăng 73,8% so với cùng kỳ. Mức tăng này cao hơn đáng kể tốc độ tăng 16,3% của thu nhập lãi thuần trong nửa đầu năm, cho thấy đóng góp của nguồn thu ngoài lãi ngày càng rõ nét trong kết quả kinh doanh.
Theo phạm vi công bố rộng hơn của ngân hàng, thu nhập từ hoạt động dịch vụ đạt 7.600 tỷ đồng trong 6 tháng, tăng 37,6% so với cùng kỳ; riêng quý II đạt mức kỷ lục 4.200 tỷ đồng, tăng 22,7% so với quý trước. Chênh lệch giữa hai nhóm số liệu đến từ cách phân loại, trong đó chỉ tiêu do TCB công bố bao gồm thêm một số khoản như phí phân phối trái phiếu và giao dịch ngoại hối.
Điểm đáng chú ý là TCB không chỉ tăng trưởng nhanh mà còn duy trì vị trí dẫn đầu từ một nền doanh thu dịch vụ đã ở mức cao. Trong khi một số ngân hàng ghi nhận mức tăng lớn do nền so sánh thấp, TCB vẫn tạo khoảng cách về giá trị tuyệt đối, phản ánh khả năng khai thác nguồn thu ngoài lãi ở quy mô lớn.
Động lực tăng trưởng đến từ nhiều mảng. Thu từ thư tín dụng, tiền mặt và thanh toán đạt 3.300 tỷ đồng trong nửa đầu năm, tăng 152,4% so với cùng kỳ; thu phí thẻ đạt 934,7 tỷ đồng, tăng 21,5%, còn thu từ ngoại hối và phái sinh đạt 708,8 tỷ đồng, tăng 21,4%.
Vị thế trong thanh toán tiếp tục bổ trợ cho nguồn thu phí. Trong 6 tháng đầu năm, TCB đứng đầu về số lượng giao dịch đến và đi, với thị phần lần lượt 16,9% và 15,8%. Ngân hàng kết thúc nửa đầu năm với 18,2 triệu khách hàng, trong đó 66,3% khách hàng mới đến từ kênh số; số giao dịch cá nhân trên nền tảng điện tử đạt 2,8 tỷ lượt, tăng 16,3%.
Quy mô giao dịch lớn giúp ngân hàng đồng thời gia tăng thu phí, duy trì dòng tiền trên tài khoản và mở rộng khả năng khai thác sản phẩm trên mỗi khách hàng. Đây là yếu tố giúp chất lượng doanh thu được cải thiện theo hướng đa dạng hơn, thay vì phụ thuộc chủ yếu vào hoạt động tín dụng.
Đến cuối quý II, ROE trượt 12 tháng của ngân hàng cải thiện lên khoảng 16%, từ mức 14,5% cùng kỳ năm trước. Ngày 10/06/2026, TCB hoàn tất chi gần 5.000 tỷ đồng cổ tức tiền mặt, tương ứng tỷ lệ 7%, trong khi hệ số an toàn vốn vẫn duy trì ở mức 15%.
Kết quả này cho thấy ưu thế của TCB không chỉ nằm ở quy mô lợi nhuận mà còn ở chất lượng cấu trúc thu nhập. CASA cao hỗ trợ chi phí vốn, NIM phục hồi nhanh hơn nhiều ngân hàng cùng nhóm, trong khi thu nhập dịch vụ tăng mạnh giúp giảm phụ thuộc vào tín dụng truyền thống.
Sự cộng hưởng của ba nền tảng này mở rộng dư địa cải thiện hiệu quả sử dụng tài sản và duy trì tăng trưởng lợi nhuận ổn định hơn qua các chu kỳ lãi suất. Với lợi thế về dữ liệu khách hàng, nền tảng số, chất lượng tài sản và khả năng phân bổ vốn, TCB có cơ sở chuyển dần sang mô hình hệ sinh thái tài chính với nguồn thu đa dạng hơn. Đây có thể là yếu tố củng cố vị thế dài hạn của ngân hàng trong giai đoạn cạnh tranh mới, khi quy mô không còn là thước đo duy nhất.






