Ngân hàng Quân đội: Tín dụng bứt tốc, biên lãi phục hồi nhưng bài toán thanh khoản đang siết chặt hơn
Ngân hàng TMCP Quân đội (MBB) khép lại nửa đầu năm 2026 với lợi nhuận trước thuế hợp nhất đạt 20.188 tỷ đồng, tăng 27% so với cùng kỳ, hoàn thành khoảng 50% kế hoạch cả năm. Điểm đáng chú ý nằm ở diễn biến quý 2: lợi nhuận trước thuế đạt 10.560 tỷ đồng, tăng 41% so với cùng kỳ và tăng 10% so với quý trước, cho thấy đà cải thiện rõ rệt so với quý đầu năm vốn còn chịu ảnh hưởng của mùa vụ tín dụng chậm.
Động lực chính đến từ sự bứt tốc của tăng trưởng tín dụng. Sau khi chỉ tăng 3,2% trong quý 1, dư nợ tín dụng hợp nhất đã tăng tới 13,2% tính từ đầu năm, tương đương mức tăng 38% so với cùng kỳ, kéo thu nhập lãi thuần quý 2 lên 16.894 tỷ đồng, tăng 37% so với cùng kỳ. Cùng lúc đó, biên lãi ròng (NIM) theo quý phục hồi 35 điểm cơ bản lên 4,15%, nhờ lợi suất tài sản tăng nhanh hơn chi phí vốn khi ngân hàng cơ cấu lại kỳ hạn danh mục tín dụng. Diễn biến này có ý nghĩa quan trọng bởi trong hai năm 2023-2025, NIM của ngân hàng đã thu hẹp liên tục từ đỉnh 5,7% xuống còn 3,9%, chủ yếu do cạnh tranh lãi suất cho vay trong bối cảnh cầu tín dụng còn yếu; việc NIM tạo đáy và phục hồi trong nửa đầu năm nay, nếu duy trì được, sẽ là tín hiệu tích cực cho chất lượng tăng trưởng lợi nhuận thời gian tới.
Tuy nhiên, không phải mọi cấu phần thu nhập đều thuận lợi. Thu nhập ngoài lãi tiếp tục là điểm trừ trong nửa đầu năm, đạt 9.008 tỷ đồng nhưng thấp hơn cùng kỳ 19%, do thu nhập từ kinh doanh ngoại hối và mua bán chứng khoán giảm lần lượt 90% và 85% so với nền so sánh cao của năm trước - giai đoạn thị trường trái phiếu chính phủ có nhiều cơ hội hiện thực hóa lợi nhuận. Đây là loại thu nhập mang tính chu kỳ, phụ thuộc vào biến động lãi suất và tỷ giá, nên sự sụt giảm này không phản ánh suy yếu của hoạt động kinh doanh cốt lõi mà chủ yếu do yếu tố thời điểm.
Về chi phí trích lập dự phòng, mức trích lập nửa đầu năm thấp hơn khoảng 15% so với dự phóng, đồng thời cao hơn nợ xấu hình thành ròng, giúp tỷ lệ bao phủ nợ xấu tăng nhẹ lên 97,4%. Tỷ lệ nợ xấu ngân hàng mẹ tăng nhẹ 4 điểm cơ bản trong quý 2 lên 1,31%, trong khi tỷ lệ nợ nhóm 2 duy trì thấp ở mức 0,66%. Áp lực nợ xấu phát sinh chủ yếu từ phân khúc bán lẻ, liên quan đến việc giá đất tại một số tỉnh sau sáp nhập điều chỉnh mạnh khiến thanh khoản bất động sản chậm lại, cùng một số khách hàng doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực xây lắp gặp khó khăn. Đáng chú ý, danh mục cho vay bất động sản kinh doanh - hiện được kiểm soát ở tỷ trọng khoảng 13% tổng dư nợ và không vượt 15% - chưa ghi nhận phát sinh nợ xấu, cho thấy phần lớn danh mục này đang ở giai đoạn dự án đã hoàn tất pháp lý và xây dựng, rủi ro thấp hơn so với các khoản cho vay giai đoạn đầu triển khai.
Động lực tăng trưởng trung hạn của ngân hàng gắn chặt với vai trò tham gia tái cơ cấu Ngân hàng thương mại TNHH MTV Đại Dương, nay đổi tên thành MBV, sau khi chính thức nhận chuyển giao bắt buộc từ tháng 10/2024. Đề án tái cấu trúc đã phê duyệt cho phép ngân hàng được hưởng hạn mức tăng trưởng tín dụng tối đa 35% mỗi năm trong bốn năm liên tiếp từ 2024 đến 2028 - mức ưu đãi vượt trội so với phần còn lại của ngành trong bối cảnh Ngân hàng Nhà nước đang thận trọng hơn với hạn mức tín dụng toàn hệ thống. Đây là yếu tố đã hiện hữu và đang được khai thác, thể hiện qua tốc độ tăng trưởng tín dụng vượt trội của ngân hàng so với bình quân ngành trong những năm gần đây, giúp thị phần tín dụng mở rộng từ khoảng 3,2% năm 2019 lên gần 6% vào cuối năm 2025.
Bên cạnh tín dụng, lợi thế cạnh tranh cốt lõi và mang tính bền vững của ngân hàng nằm ở cơ cấu huy động vốn giá rẻ. Tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn (CASA) duy trì ở mức cao nhất hệ thống nhiều năm liền, đạt 37% vào cuối năm 2025, được hỗ trợ bởi nền tảng khách hàng đặc thù từ các doanh nghiệp quân đội và hệ sinh thái ngân hàng số với hơn 35 triệu khách hàng. Đây là yếu tố giúp ngân hàng kiểm soát chi phí vốn tốt hơn phần lớn đối thủ tư nhân, dù không phải là câu chuyện mới mà là lợi thế đã được xây dựng và củng cố qua nhiều năm.
Ở chiều ngược lại, trạng thái thanh khoản đang là điểm cần theo dõi sát trong ngắn hạn. Huy động vốn tại ngân hàng mẹ chỉ tăng 8,7% tính từ đầu năm, thấp hơn tốc độ tăng trưởng tín dụng tới 4,8 điểm phần trăm, buộc ngân hàng phải dựa nhiều hơn vào kênh phát hành giấy tờ có giá, vốn có chi phí cao hơn tiền gửi, với mức tăng 27,5% từ đầu năm. Tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi cũng đã tăng lên vùng 80-82% từ mức 75-76% trong năm 2023, dù vẫn còn khoảng cách an toàn so với ngưỡng tối đa 85% theo quy định nhưng khoảng cách này đã thu hẹp đáng kể so với các năm trước. Nếu tốc độ tăng trưởng tín dụng tiếp tục duy trì ở mức cao trong khi huy động từ thị trường dân cư không theo kịp, ngân hàng sẽ phải phụ thuộc nhiều hơn vào nguồn vốn liên ngân hàng - vốn có tính ổn định thấp hơn và chi phí cao hơn, tạo áp lực nhất định lên biên lãi ròng trong các quý tới.
Nhìn về phía trước, khả năng cải thiện NIM trong ngắn hạn có cơ sở nhất định nhờ cơ cấu kỳ tái định giá lãi suất hiện nay: phần lớn danh mục cho vay và huy động đang nằm ở kỳ hạn tái định giá ngắn, trong đó tài sản có xu hướng tái định giá nhanh hơn nguồn vốn huy động tương ứng. Trong môi trường lãi suất có thể nhích tăng, đặc điểm cấu trúc này có lợi cho biên lãi ròng. Đồng thời, nếu ngân hàng được chấp thuận nhận tiền gửi có kỳ hạn từ Kho bạc Nhà nước theo cơ chế đang được triển khai, nhu cầu phát hành giấy tờ có giá chi phí cao có thể giảm bớt, tạo dư địa cải thiện chi phí vốn vượt kịch bản hiện tại. Tuy nhiên, đây vẫn là yếu tố mang tính kỳ vọng, phụ thuộc vào cơ chế phân bổ cụ thể chưa được xác định rõ ràng, nên cần được nhìn nhận thận trọng thay vì xem là kết quả chắc chắn.
Rủi ro lớn nhất đối với triển vọng trung hạn của ngành ngân hàng nói chung, và của MBB nói riêng, nằm ở khả năng điều phối chính sách lãi suất - tỷ giá thiếu hài hòa. Trong bối cảnh dự trữ ngoại hối quốc gia còn mỏng và áp lực tỷ giá có thể gia tăng nếu đồng USD mạnh trở lại, một kịch bản lãi suất huy động tăng nhanh trong thời gian ngắn - tương tự các chu kỳ nợ xấu từng xảy ra trước đây - có thể ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng vừa gánh dư nợ tăng cao sau giai đoạn tín dụng mở rộng mạnh. Đối với riêng MBB, việc tỷ lệ bao phủ nợ xấu hiện ở mức 97,4%, tuy đã cải thiện nhưng vẫn thấp hơn đáng kể so với một số ngân hàng có chính sách trích lập bảo thủ hơn, khiến bộ đệm dự phòng chưa thực sự dày để hấp thụ những cú sốc bất lợi nếu xảy ra.
Tổng thể, câu chuyện của Ngân hàng Quân đội trong giai đoạn hiện tại là sự đánh đổi giữa tốc độ mở rộng quy mô nhanh, được hỗ trợ bởi hạn mức tín dụng ưu đãi và nền tảng CASA vượt trội, với áp lực thanh khoản và chi phí vốn đang gia tăng khi huy động không theo kịp đà tăng trưởng tín dụng. Nhà đầu tư quan tâm đến cổ phiếu này nên tiếp tục theo dõi sát diễn biến tỷ lệ nợ xấu hình thành mới trong các quý tới, đặc biệt ở phân khúc bán lẻ và bất động sản, cùng với khả năng ngân hàng cân đối giữa tốc độ tăng trưởng tín dụng và mức độ an toàn thanh khoản trong bối cảnh môi trường lãi suất có thể không còn thuận lợi như giai đoạn 2024-2025.
Nhà đầu tư quan tâm sâu hơn đến cổ phiếu MBB có thể liên hệ Duy Anh qua trang bio để được tư vấn đầu tư trực tiếp.