Trong Q1/2024, doanh thu và LNST của MWG ghi nhận tăng trưởng mạnh mẽ so với mức nền thấp cùng kỳ.
Luận điểm đầu tư:
- Doanh thu của MWG đạt 31.486 tỷ đồng (+15% svck) trong khi LNST đạt 902 tỷ đồng (tăng gần 43 lần svck). Biên LNG được cải thiện mạnh từ mức 19,2% (Q1/2023) lên mức 21,3% (Q1/2024) chủ yếu nhờ nỗ lực tái cơ cấu các cửa hàng hoạt động kém hiệu quả và tối ưu số dư hàng tồn kho của MWG. Như vậy, với kết quả này, MWG đã hoàn thành 25% kế hoạch về doanh thu và 38% kế hoạch về LNST mà doanh nghiệp đã đặt ra từ đầu năm.
✓ Thế giới Di động và Điện máy xanh (TGDĐ + ĐMX): Ghi nhận doanh thu Q1/2024 đạt 21.300 tỷ đồng (+6,8% svck; chiếm khoảng 67,8% tổng doanh thu), trong đó TGDĐ đóng góp khoảng 6.801 tỷ đồng (+2,4% svck) và ĐMX đóng góp khoảng 14.547 tỷ đồng (+9,3% svck). Tăng trưởng của 2 chuỗi được đóng góp chủ yếu bởi một số ngành hàng như điện
lạnh, hàng gia dụng và ĐTDĐ, đặc biệt là mảng điện lạnh ghi nhận tăng trưởng mạnh nhất do thời tiết bước vào giai đoạn nắng nóng cao điểm khiến nhu cầu tiêu thụ gia tăng mạnh mẽ. Ngược lại, ngành hàng TV và Máy tính xách tay ghi nhận giảm nhẹ. Trong Q1/2024, số cửa hàng của TGDĐ và ĐMX tiếp tục giảm svck do chiến lược tái cấu trúc, đóng
cửa các cửa hàng hoạt động kém hiệu quả để tối ưu chi phí của MWG từ cuối năm 2023. TGDĐ đã giảm 117 cửa hàng, đạt 1.071 cửa hàng (-9,8% svck) và ĐMX giảm 107 cửa hàng, đạt 2.184 cửa hàng (-4,7% svck). Mặc dù ghi nhận số lượng cửa hàng suy giảm nhưng doanh thu cả 2 chuỗi vẫn ghi nhận tăng trưởng cho thấy những nỗ lực tái cơ cấu của
MWG đã có những dấu hiệu tích cực. Theo đó, biên lợi nhuận gộp của 2 chuỗi này cũng đã ghi nhận tăng lên mức 19% (+200bps svck).
2. Bách hóa xanh (BHX): Doanh thu Q1/2023 đạt khoảng 9.100 tỷ đồng (+43% svck), chiếm 29,1% cơ cấu doanh thu của MWG. Doanh thu TB/cửa hàng đạt khoảng 1,8 tỷ đồng/tháng (+44% svck) vẫn nhờ sự đóng góp tích cực của 2 ngành hàng thực phẩm tươi sống và FMCGs. Theo MWG, BHX ghi nhận EBITDA ở cấp độ công ty gấp 3 lần svck và khoảng 97% số cửa hàng có EBITDA dương trong Q1/2024. Hiện tại, BHX vẫn đang duy trì điểm hòa vốn trên cơ sở hoạt động đủ ngày trong tháng. Ngoài ra, số cửa hàng của BHX trong Q1 đạt 1.696 cửa hàng (-0,8% svck).
3. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2024, doanh thu của MWG ghi nhận đạt 43.039 tỷ đồng (+16,8% svck) – hoàn thành 34% kế hoạch về doanh thu trong năm 2024. Trong đó, chuỗi TGDĐ và ĐMX đạt 29.400 tỷ đồng (+8% svck) với doanh thu riêng trong tháng 4 đạt 8.000 tỷ đồng (+10% svck; +25% MoM). Bên cạnh đó, doanh thu lũy kế 4 tháng của BHX đạt 12.400 tỷ đồng (+43% svck) với doanh thu tháng 4 đạt 3.200 tỷ đồng, tương đương với mức doanh thu TB/cửa hàng đạt 1,9 tỷ đồng (+41% svck; +6% MoM) và chuỗi này đã bắt đầu sinh lời.
4. Hàng tồn kho giảm về mức thấp nhất kể từ Q1/2021, giúp biên lợi nhuận gộp của MWG được cải thiện rõ rệt. Tại 31/03/2023, khoản mục hàng tồn kho của MWG đạt 20.492 tỷ đồng (-6,1% so với đầu năm) và chiếm 32% cơ cấu tổng tài sản của doanh nghiệp. Trong đó chủ yếu là hàng hóa bao gồm thiết bị điện tử, điện thoại di động, thiết bị gia dụng, thực phẩm tươi sống. Doanh nghiệp đã thực hiện trích lập dự phòng 267 tỷ đồng cho khoản mục này.
Số ngày tồn kho giảm dần theo từng quý. Tại 31/03/2023, số ngày tồn kho của MWG ở mức 78 ngày, giảm mạnh so với mức 88 ngày vào cuối Q1/2023. Đây cũng là số ngày tồn kho thấp nhất kể từ Q4/2020 của MWG. So sánh với FRT – doanh nghiệp bán lẻ sản phẩm số cùng ngành với MWG, chúng tôi nhận thấy xu hướng giảm số dư hàng tồn kho đang diễn ra ở cả 2 doanh nghiệp, điều này cho thấy các doanh nghiệp đã quản trị hàng tồn kho tốt hơn trong quý đầu năm, cũng là nguyên nhân giúp biên lợi nhuận của MWG trong quý này được cải thiện rõ rệt như chúng tôi đã đề cập. Tuy nhiên, ngược lại với MWG, số ngày tồn kho của FRT đang ở mức cao hơn (106 ngày) và trong xu hướng tăng kể từ Q2/2023. Như vậy, MWG hiện vẫn đang quản trị hàng tồn kho hiệu quả hơn so với đối thủ cạnh tranh.
Chúng tôi khuyến nghị:
Vùng mua: 61-62,x
Target: 7x






