Ngân hàng giảm lãi vay 2%. Tiền vẫn chưa rẻ

, ,

Tin được đọc nhiều nhất trên các trang tài chính tuần qua có lẽ là chuyện các ngân hàng đồng loạt giảm lãi suất cho vay.

Sau định hướng của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước, các ngân hàng lớn lần lượt công bố giảm 1,5 đến 2 điểm phần trăm cho sản xuất kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên, kèm theo đó là giảm lãi suất huy động kỳ hạn dài.

Với nhiều người, con số 2% gợi lại cảm giác của năm 2023, khi tiền rẻ dần và thị trường tài sản đi lên theo.

Trong tháng 8, 93 Capital có một bài viết về thị trường BĐS, trong đó có một kết luận rằng lãi suất sẽ khó có thể giảm như năm 2023, vì lạm phát đang gần mục tiêu, thanh khoản ngân hàng không dư dả và cán cân ngoại hối còn mỏng. 2 tháng sau, lãi suất giảm 2%. Bài viết đó đã sai ở đâu, hay đang có một câu chuyện khác diễn ra phía sau con số?

Sau khi đọc kỹ nội dung định hướng, số liệu thanh khoản và cách từng ngân hàng triển khai, câu trả lời có lẽ nghiêng về vế thứ hai. Đây dường như là một đợt giảm lãi suất khó được như kỳ vọng của chúng ta khi đọc tin.

Lãi suất cho vay của một số nhóm khách hàng giảm thật, nhưng giá vốn của cả hệ thống ngân hàng gần như chưa thay đổi, và khi giá vốn chưa đổi mà giá bán giảm, thì phần chênh lệch ấy sẽ phải có ai đó gánh vác. Hiểu được bên nào chi trả, gánh vác bằng cách nào và gánh được bao lâu, có lẽ quan trọng hơn chính con số 2%.

Sâu hơn nữa, sau sự việc trên, có lẽ chúng ta sẽ nhận thấy rằng điều gì đó về dư địa thực tế còn lại, và về việc bức tranh thanh khoản phía sau những tiêu đề tuần qua có thể không sáng như con số 2% gợi ra.

Bài viết đi qua 8 phần:

  1. Thực sự chuyện gì đã xảy ra
  2. Vì sao đây chưa phải một đợt nới lỏng tiền tệ
  3. 2% này đến từ đâu
  4. Bài toán của người gửi tiền
  5. Ràng buộc từ thị trường quốc tế
  6. Năm 2012 có lẽ gần hơn năm 2023
  7. Mục tiêu hai con số và một nền kinh tế ngày càng cần nhiều vốn hơn
  8. Nhận định của người viết

1. Thực sự chuyện gì đã xảy ra

Trước khi bàn xem đợt giảm này có ý nghĩa gì, có lẽ nên xem lại kĩ hơn mức ảnh hưởng. Phần lớn sự hào hứng tuần qua đến từ con số 2%, nhưng ít ai hỏi rằng 2% đó áp dụng cho bao nhiêu phần trong tổng số tiền mà các ngân hàng đang cho vay, và quy mô tác động thế nào.

Định hướng của Ngân hàng Nhà nước gửi các tổ chức tín dụng hôm 18/10 có 3 nội dung chính. Thứ nhất, giảm lãi suất tiền gửi niêm yết kỳ hạn từ 6 tháng trở lên tối thiểu 0,5 điểm phần trăm. Thứ hai, giảm lãi suất cho vay 1,5 đến 2 điểm phần trăm, tập trung vào sản xuất kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên.

Thứ ba, tiết giảm chi phí hoạt động để chia sẻ với doanh nghiệp. Trong cuộc họp với các ngân hàng sáng 19/10, Thống đốc nói rõ việc giảm là có chọn lọc, không cào bằng, và các ngân hàng cần cân đối lại kế hoạch lợi nhuận của mình cho phù hợp.

Các ngân hàng triển khai đúng theo tinh thần đó, tức là theo gói và theo nhóm khách hàng. BIDV dành khoảng 100.000 tỷ đồng cho vay ngắn hạn các ngành ưu tiên. Agribank có gói 70.000 tỷ. Sacombank giảm 2% cho doanh nghiệp chủ lực, xuất nhập khẩu và FDI với quy mô 40.000 tỷ, tương đương khoảng 6% dư nợ của chính họ. Các ngân hàng khác cũng công bố những gói có quy mô và đối tượng tương tự.

Từ danh sách này, TCBS đưa ra một ước tính đáng chú ý: phần dư nợ thuộc diện được giảm có lẽ chỉ vào khoảng 3 đến 5% tổng dư nợ toàn hệ thống. Hơn 95% còn lại vẫn trả lãi theo mặt bằng cũ, mà theo số liệu tháng 8 của Ngân hàng Nhà nước, lãi vay bình quân đang ở khoảng 10,7%/năm, cao hơn cùng kỳ năm trước chừng 3 điểm phần trăm.

Phía huy động, sáng 20/10 có khoảng 15 ngân hàng hạ lãi suất tiền gửi kỳ hạn dài 0,5 đến 0,7 điểm, đưa lãi suất 12 tháng tại quầy của Vietcombank và Agribank về 5,4%. Cũng trong ngày hôm đó, có ghi nhận một ngân hàng quốc doanh điều chỉnh biểu lãi suất 2 lần, buổi sáng giảm theo định hướng và buổi chiều đưa về mức cũ.

Như vậy, điều đã thực sự xảy ra là lãi suất cho vay của một phần nhỏ danh mục giảm khá mạnh, lãi suất huy động giảm nhẹ ở kỳ hạn dài, còn mặt bằng chung của cả hệ thống thì gần như chưa dịch chuyển.

2. Vì sao đây chưa phải một đợt nới lỏng tiền tệ

Một đợt nới lỏng tiền tệ thực sự thường có hình dạng tương đối rõ ràng. Ngân hàng trung ương hạ lãi suất mà họ cho hệ thống vay, bơm thêm thanh khoản ra thị trường liên ngân hàng, rồi để lãi suất huy động và cho vay dần hạ theo.

Năm 2023 đi theo cách như vậy, với 4 lần hạ lãi suất điều hành trong nửa đầu năm, lãi suất huy động bình quân về 5,7% và cho vay về khoảng 8,9% chỉ sau vài tháng. Giá vốn giảm trước tiên, và lãi vay giảm là hệ quả đến sau.

Trong tuần vừa qua, lãi suất tái cấp vốn vẫn giữ ở 4,5%, mức đã duy trì suốt 9 tháng của năm 2026. Thanh khoản ngắn hạn của hệ thống cũng không phải là chỗ thật sự đáng lo. Trên thị trường liên ngân hàng, lãi suất qua đêm lên xuống khá mạnh trong 3 tuần gần đây, có lúc gần 7% vào cuối quý rồi về dưới 1% ngay tuần sau đó, nhưng đây là phần vốn mà Ngân hàng Nhà nước có thể bơm vào hay rút ra chỉ trong vài phiên qua thị trường mở, hiếm khi là thứ khiến một ngân hàng phải cân nhắc khi định giá khoản vay.

Giá vốn mà ngân hàng dùng để cho vay nằm ở nguồn vốn có kỳ hạn, chủ yếu là tiền gửi từ 6 đến 12 tháng trở lên, cùng với chứng chỉ tiền gửi và trái phiếu do chính ngân hàng phát hành. Trong 9 tháng đầu năm, tín dụng tăng khoảng 11,6% so với đầu năm, trong khi huy động vốn chỉ tăng khoảng 9,8%. Đây không phải chuyện của riêng năm nay.

Từ 2021 đến nay, năm nào tín dụng cũng tăng nhanh hơn huy động, có năm chênh tới 6 điểm phần trăm, và khoảng cách tích lũy qua 5 năm ấy đã đưa tỷ lệ cho vay trên tiền gửi khách hàng của nhóm ngân hàng niêm yết từ dưới 90% năm 2021 lên sát 100% vào giữa năm 2026, nghĩa là các ngân hàng về cơ bản đã cho vay hết số tiền gửi mà họ huy động được.

Câu chuyện kỳ hạn còn khó hơn quy mô, vì phần lớn tín dụng tăng thêm là cho vay trung dài hạn, trong khi quy định hiện hành chỉ cho phép dùng tối đa 30% vốn ngắn hạn để cho vay trung dài hạn, nên muốn cho vay dài thì phải có tiền gửi dài. Tiền gửi dân cư lại phần lớn là kỳ hạn ngắn, và kết quả là các ngân hàng cạnh tranh nhau đúng ở phân khúc tiền gửi 12 tháng trở lên.

Lãi suất tiền gửi mới bình quân vì thế đã tăng khoảng 1,2 điểm phần trăm từ đầu năm, lên quanh 6,5% vào cuối tháng 9, ngay trong giai đoạn lãi suất qua đêm có lúc về dưới 1%. Khi hai con số này đi ngược chiều nhau trong cùng một tháng, có lẽ nên hiểu rằng hệ thống không thiếu tiền để qua ngày, mà đang thiếu thứ tiền có thể nằm yên đủ lâu để các ngân hàng đem cho vay dài.



Lạm phát cũng đang không ủng hộ việc nới lỏng. CPI tháng 9 tăng 5,08% so với cùng kỳ, bình quân 9 tháng tăng 4,52%, đều đã vượt mục tiêu 4,5% của cả năm. Ở bên ngoài, Fed vừa tăng lãi suất lần đầu kể từ năm 2023, lên 3,75 đến 4%.

Trong bối cảnh lạm phát vượt mục tiêu, thanh khoản chưa ổn định và đồng USD đang đắt lên, rất ít ngân hàng trung ương chọn cách hạ lãi suất điều hành, và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có lẽ cũng không phải ngoại lệ. Cách được chọn là định hướng các ngân hàng thương mại tự điều chỉnh giá cho một phần danh mục của mình.

Có một cách hình dung gần gũi hơn đó là hình ảnh của một nhà xe khách. Giá xăng không giảm, nhưng các nhà xe được khuyến khích giảm giá vé cho hành khách đi tuyến tỉnh. Giá vé sẽ giảm thật và hành khách tuyến tỉnh được lợi. Nhưng chi phí cho một chuyến xe thì vẫn như cũ, vì xăng vẫn giá cũ, nên nhà xe sẽ làm những việc mà họ vẫn thường làm trong tình huống ấy, chẳng hạn bớt những chuyến vắng khách, cân nhắc kỹ hơn khi nhận khách, giữ nguyên giá các tuyến khác, hoặc chấp nhận lợi nhuận thấp hơn trong một thời gian. Ở đây, lãi suất cho vay là giá vé, còn lãi suất huy động và thanh khoản liên ngân hàng là giá xăng.

Krugman có một cách diễn đạt khá hữu ích cho tình huống này. Ông coi lãi suất là mức giá cân bằng giữa những người muốn giữ tiền và những người muốn dùng tiền, và muốn mức giá ấy thấp một cách bền vững thì phải thay đổi được một trong hai phía, hoặc có thêm tiền sẵn sàng cho vay, hoặc bớt nhu cầu vay.

Một đợt điều chỉnh giá từ chính sách điều hành, dù thiện chí đến đâu, dường như chưa chạm tới hai phía ấy.

3. 2% giảm lãi suất đến từ đâu

Nếu giá vốn chưa giảm mà lãi vay của một nhóm khách hàng giảm, thì phần chênh lệch ấy sẽ phải được lấy từ đâu đó. Kinh tế vĩ mô xoay quanh một nguyên lý kế toán rất giản dị, rằng chi tiêu của người này là thu nhập của người khác, và vì thế lãi vay của người này cũng chính là thu nhập lãi của người kia. Theo cách nhìn đó, 2% tuần qua có lẽ đến từ 3 nguồn.

Nguồn thứ nhất là lợi nhuận của ngân hàng, tức là của cổ đông ngân hàng. TCBS ước tính biên lãi ròng toàn ngành có thể giảm khoảng 3 đến 7 điểm cơ bản và lợi nhuận trước thuế giảm 2 đến 4%. Con số nghe không lớn, nhưng nó không chia đều, bởi nhóm quốc doanh đi đầu trong đợt này trong khi lãi vay của họ vốn đã thấp nhất hệ thống, khoảng 7,4 đến 7,6% so với 8,4 đến 9,5% ở các ngân hàng tư nhân.

Thị trường gần như phản ứng ngay lập tức trong phiên 19/10, khi cổ phiếu ngân hàng bị bán khá mạnh, trong đó có cả VPBank dù ngân hàng này vừa báo lợi nhuận quý III ở mức kỷ lục. Việc Thống đốc đề nghị các ngân hàng cân đối lại kế hoạch lợi nhuận cũng cho thấy phần chi phí này đã được tính đến.

Nguồn thứ hai là người gửi tiền, qua mức giảm tối thiểu 0,5 điểm ở kỳ hạn dài. Đây là nguồn đáng để nói riêng, nên xin dành cho phần sau.

Nguồn thứ ba ít được nhắc đến hơn, là những người vay không nằm trong diện ưu tiên. Khi một ngân hàng phải giảm giá cho khoảng 5% danh mục trong lúc chi phí vốn chưa đổi, cách tự nhiên nhất để giữ biên lợi nhuận là giữ nguyên, hoặc giảm chậm hơn, với 95% còn lại. Người vay mua nhà, vay tiêu dùng hay các doanh nghiệp ngoài 5 lĩnh vực ưu tiên có thể là nơi phần chênh lệch ấy được bù lại, qua lãi suất, qua phí, hoặc qua các sản phẩm bán kèm.

Nhìn tổng thể, đợt giảm này về bản chất giống một khoản hỗ trợ chi phí vốn cho sản xuất kinh doanh, được thực hiện thông qua bảng cân đối của các ngân hàng thương mại thay vì qua ngân sách.

Nhà nước là cổ đông lớn ở 4 ngân hàng quốc doanh, nên một phần lợi nhuận mà các ngân hàng này chia sẻ với doanh nghiệp cũng chính là một phần cổ tức tương lai của ngân sách. Cách làm này có ưu điểm là nhanh và không cần thủ tục phân bổ như một gói hỗ trợ lãi suất thông thường, nhưng nó cũng đồng nghĩa với việc chi phí của chính sách nằm trong biên lãi ròng của ngân hàng, thay vì được ghi nhận một cách tường minh.

Bài viết này không bàn đến chuyện đúng sai của chính sách, bởi mỗi quyết định điều hành đều đã được cân nhắc kỹ càng từ nhiều phía mà người ngoài khó thấy hết. Điều bài viết muốn làm là giúp chúng ta hiểu bản chất của những gì đang diễn ra, để tự rút ra cách ứng xử cho túi tiền của mình, và chia sẻ góc nhìn cá nhân của người viết ở phần cuối.

Chỉ xin lưu ý rằng phần chi phí đang được đặt lên lợi nhuận và vốn chủ sở hữu của ngân hàng trong lúc tấm đệm ấy không quá dày, với nợ xấu nội bảng toàn hệ thống khoảng 3,31% cuối tháng 6, đã hạ so với đỉnh 4,55% năm 2023 nhưng vẫn gần gấp đôi mức 1,7 đến 2% của giai đoạn 2020 đến 2022, trong khi tỷ lệ bao phủ nợ xấu bình quân của các ngân hàng niêm yết đã giảm từ khoảng 142% cuối năm 2021 xuống chưa đến 79%, và biên lãi ròng cũng đã hẹp lại từ gần 3,8% năm 2022 còn quanh 3%.

Các ngân hàng vì thế đang được giao cùng lúc 3 việc không dễ dung hòa, là giảm lãi suất, kiểm soát nợ xấu và tăng trưởng tín dụng khoảng 15% cho cả năm.



https://vietstock.vn/2026/10/doanh-nghiep-nang-no-cu-khong-man-ma-goi-vay-moi-du-lai-suat-giam-757-1505002.htm

4. Bài toán của người gửi tiền

Để lãi vay giảm một cách bền vững, ngân hàng phải giảm được chi phí huy động, và đó là lý do việc giảm lãi suất tiền gửi 0,5 điểm được đặt lên trước. Khó khăn nằm ở chỗ mức giảm này áp dụng cho kỳ hạn từ 6 tháng trở lên, tức là rơi đúng vào phân khúc nguồn vốn mà các ngân hàng đang phải cạnh tranh nhau gay gắt nhất để có được.

Giảm giá mua đầu vào đúng lúc đầu vào đang khan hiếm là một bài toán mà người làm kinh doanh nào cũng đoán được kết quả.

Hãy thử đặt mình vào vị trí một người có 1 tỷ đồng đang gửi kỳ hạn 12 tháng tại Vietcombank. Lãi suất mới là 5,4%, trong khi lạm phát đang ở 5,08%, nghĩa là lãi thực còn khoảng 0,3%/năm, gần như bằng không. Cùng lúc đó, ở một ngân hàng nhỏ hơn, cùng kỳ hạn vẫn được trả 6,5 đến 7%, và với những khoản tiền lớn, một số nơi sẵn sàng trả cao hơn nữa. Ở thị trường thứ cấp, nhiều căn hộ đã giảm 20 đến 30% so với đỉnh cuối năm 2025 và bắt đầu có người quan tâm.

Người gửi tiền không cần tới kiến thức vĩ mô cao siêu. Khi lợi tức của việc giữ tiền trong hệ thống xuống dưới mức mà họ cho là xứng đáng, họ sẽ dịch chuyển, có thể sang ngân hàng trả cao hơn, có thể sang tài sản khác, và sau đó hệ thống thường phải trả giá cao hơn để gọi tiền quay về. Đó là lý do việc một ngân hàng lớn phải điều chỉnh biểu lãi suất 2 lần trong 1 ngày, nếu đúng như báo chí ghi nhận.

Những tháng tới cũng không thực sự thuận lợi cho việc giảm lãi suất huy động. Vietstock chỉ ra rằng khoảng 740.000 tỷ đồng tiền gửi Kho bạc Nhà nước trong hệ thống sẽ được rút dần theo tiến độ giải ngân đầu tư công cuối năm, một lượng lớn tiền gửi kỳ hạn 6 tháng mở từ mùa hè sẽ đáo hạn dồn vào khoảng tháng 12 đến tháng 2, và Tết Nguyên đán rơi vào ngày 6/2/2027, mùa rút tiền mặt lớn nhất trong năm.

Ước tính của họ là lãi suất 12 tháng có thể tăng trở lại 30 đến 70 điểm cơ bản vào đầu năm 2027. Nếu vậy, đợt giảm 0,5 điểm lần này đang rơi vào đúng giai đoạn mà các ngân hàng cần tiền gửi nhất.

Đây có lẽ là điểm đáng suy nghĩ nhất trong toàn bộ câu chuyện. Con đường duy nhất để lãi vay giảm thật là làm cho tiền gửi rẻ hơn, nhưng làm cho tiền gửi rẻ hơn trong lúc đang thiếu tiền gửi lại khiến nó khan hơn, mà khan hiếm hơn thì sớm muộn cũng đắt hơn. 2 mục tiêu ấy dường như đang kéo về hai hướng ngược nhau.

5. Ràng buộc từ thị trường quốc tế

Ngoài thanh khoản trong nước, còn một ràng buộc nữa lớn hơn và ít được nhắc đến hơn trong các bản tin tuần qua.

Kinh tế học có một định lý là bộ ba bất khả thi của Mundell. Một nền kinh tế không thể cùng lúc có tỷ giá ổn định, dòng vốn tự do và chính sách tiền tệ độc lập, mà chỉ có thể chọn hai trong ba. Việt Nam trong nhiều năm đã chọn ổn định tỷ giá và từng bước mở cửa tài khoản vốn, và cái giá của lựa chọn ấy là lãi suất trong nước không thể đi quá xa so với lãi suất USD.

Trong thời gian qua lãi suất USD đang đi lên. Fed đã nâng lãi suất lên 3,75 đến 4% vào giữa tháng 9, lần tăng đầu tiên kể từ năm 2023, trong khi lãi suất liên ngân hàng qua đêm của Việt Nam vào giữa tháng 10 quanh 4,4%, nghĩa là phần chênh lệch có lợi cho việc giữ tiền đồng gần như đã về không. Tỷ giá trung tâm đã tăng khoảng 2% từ đầu năm. Dự trữ ngoại hối theo công bố của Ngân hàng Nhà nước ở mức 87,6 tỷ USD vào giữa năm, thấp hơn đỉnh gần 110 tỷ của năm 2021.

Thước đo quen thuộc hơn với giới phân tích là dự trữ tương đương bao nhiêu tháng nhập khẩu, và theo cách tính này, con số đã giảm từ hơn 4 tháng năm 2020 xuống chưa đến 2 tháng hiện nay, dưới ngưỡng tối thiểu 3 tháng mà IMF khuyến nghị, một phần vì nhập khẩu năm nay tăng gần 37%. Nhập siêu 9 tháng khoảng 19,4 tỷ USD, và khối ngoại đã bán ròng trên thị trường chứng khoán hơn 116.000 tỷ đồng từ đầu năm.



Khi nối các mắt xích này lại, ta thấy một vòng lặp khá rõ ràng. Nếu lãi suất tiền đồng được kéo xuống trong lúc lãi suất USD đi lên, động cơ nắm giữ ngoại tệ sẽ tăng và tỷ giá chịu thêm áp lực. Để giữ tỷ giá, Ngân hàng Nhà nước phải bán USD ra, mà mỗi USD bán ra đồng thời hút về một lượng tiền đồng tương ứng, khiến thanh khoản liên ngân hàng khan hơn và các ngân hàng thương mại lại phải nâng lãi suất huy động để giữ nguồn. Vòng lặp vì thế quay về đúng điểm xuất phát. Dalio thường ví nền kinh tế như một cỗ máy mà trong đó dòng tiền luôn tự tìm đường đi quanh bất kỳ mức giá nào được ấn định sẵn.

Ba điều kiện khiến lãi suất khó giảm trong bài viết về BĐS trước đây, đến nay đều đã rõ hơn chứ không giảm đi. Trong hoàn cảnh ấy, việc cơ quan điều hành chọn định hướng các ngân hàng điều chỉnh có chọn lọc, thay vì hạ lãi suất điều hành cho cả nền kinh tế, dường như là một lựa chọn thận trọng và có chủ ý, và chính sự thận trọng đó cũng cho chúng ta biết rằng dư địa để tiền thực sự rẻ đi trong những tháng tới là không nhiều.

6. Năm 2012 có lẽ gần hơn năm 2023

Khi một cách làm được lặp lại, hệ quả của nó thường cũng có nhiều nét quen thuộc. Vì vậy câu hỏi đáng đặt ra là đợt giảm lần này giống với lần nào trong quá khứ.

Nhiều người liên tưởng đến năm 2023, vì đó là đợt giảm gần nhất và cũng là đợt dễ chịu nhất trong ký ức: thanh khoản dư thừa, tiền rẻ chảy vào chứng khoán và VN-Index đi lên suốt nửa năm. Nhưng 2023 là một đợt nới lỏng bằng công cụ gốc, trong đó lãi suất huy động tự hạ vì các ngân hàng thừa tiền mà thiếu người vay, và bức tranh tuần qua không có điểm chung nào với năm đó.

Giai đoạn giống hơn, theo cá nhân tôi nhận thấy có lẽ là năm 2012, dù hai thời điểm khác nhau rất xa về mức độ. Năm 2011 lạm phát từng vượt 18% và lãi suất huy động có lúc lên tới gần 20%, còn hiện tại lạm phát quanh 5% và lãi suất huy động chỉ bằng một phần ba mức ấy, hệ thống ngân hàng cũng khỏe hơn nhiều.

Điểm giống nhau nằm ở hoàn cảnh và cách làm: lạm phát cao hơn mục tiêu, tín dụng tăng nhanh hơn huy động, và lãi suất được điều chỉnh bằng định hướng hành chính trong lúc thanh khoản không dư.

Năm 2012, trần lãi suất huy động được hạ từ 14% xuống 8% chỉ trong 1 năm, kèm theo yêu cầu giảm lãi vay cho các khoản vay cũ. Theo tổng kết của BSC sau đó, lãi vay giảm chậm hơn huy động khá nhiều, biên lãi ròng của các ngân hàng lại nở ra sau mỗi lần hạ trần, doanh nghiệp được chào những gói ưu đãi ngắn rồi thả nổi về mức cao, và vốn rẻ thực tế chủ yếu đến được với doanh nghiệp lớn có tài sản đảm bảo tốt.

Nếu năm 2026 đi theo một phiên bản nhẹ hơn của kịch bản ấy, thì những gì diễn ra trong vài tháng tới có lẽ sẽ là lãi suất niêm yết giảm. Lãi suất mà doanh nghiệp nhỏ thực sự trả giảm ít hơn, qua phí, qua điều kiện giải ngân, qua kỳ hạn ngắn và qua việc ngân hàng cân nhắc kỹ hơn khi chọn khách.

Phần vốn rẻ nhất sẽ chảy về những khách hàng mà ngân hàng vốn đã muốn giữ, như cách gói của Sacombank ghi rõ dành cho doanh nghiệp chủ lực, xuất nhập khẩu và FDI. Và đến khi mùa cao điểm thanh khoản cuối năm đi qua, lãi suất huy động có xu hướng quay lại mức trước đợt giảm, hoặc cao hơn một chút.

7. Mục tiêu hai con số và một nền kinh tế ngày càng cần nhiều vốn hơn

Để hiểu vì sao cơ quan điều hành chọn làm một việc khó vào thời điểm khó như vậy, có lẽ cần nhìn vào mục tiêu tăng trưởng mà nền kinh tế đang theo đuổi.

GDP quý III tăng 9,95%, 9 tháng tăng 9,01%. Mục tiêu năm 2026 là từ 10% trở lên, và Kết luận 106 của Trung ương vừa đặt tiếp mục tiêu từ 10% cho năm 2027. Ở tốc độ này, nền kinh tế không hề thiếu động lực, mà đúng hơn là đang khá nóng, và CPI trên 5% có thể xem như nhiệt kế của sự nóng ấy. Một nền kinh tế tăng trưởng gần 10% với lạm phát vượt mục tiêu thường cần giữ hoặc tăng lãi suất hơn là giảm.

Vậy vì sao lãi suất vẫn được định hướng giảm? Có lẽ vì tăng trưởng 10% của năm nay phần lớn đang được tài trợ bằng tín dụng, và năm sau lại cần thêm 10% nữa. Tín dụng đến cuối tháng 9 tăng khoảng 16,7% so với cùng kỳ, nhanh hơn GDP danh nghĩa.

Tỷ lệ tín dụng trên GDP đã lên khoảng 146% vào cuối năm 2025, từ mức 115% năm 2020, cao hơn Thái Lan và Malaysia và trong khu vực chỉ còn kém Trung Quốc và Hàn Quốc. Mỗi đồng GDP tăng thêm hôm nay cần nhiều đồng vốn vay hơn so với 10 năm trước.

Khi một cỗ máy cần ngày càng nhiều nhiên liệu cho cùng một quãng đường, người lái chỉ có 2 lựa chọn là sửa máy hoặc tìm nhiên liệu rẻ hơn, và giảm lãi suất là lựa chọn thứ hai.



Trong chu kỳ nợ dài hạn của Dalio, nợ tăng nhanh hơn thu nhập trong một thời gian đủ dài. Chuyện đó không gây ra vấn đề ngay, vì tăng trưởng che được rất nhiều thứ, nhưng mỗi năm trôi qua, độ nhạy của toàn hệ thống với lãi suất lại tăng thêm một chút.

Khi lãi vay bình quân khoảng 10,7% áp lên khối nợ bằng gần 150% GDP, riêng tiền lãi hằng năm đã tương đương khoảng 15% GDP. Một nền kinh tế như vậy khó chịu đựng lãi suất cao trong thời gian dài, và đó mới là lý do sâu xa của đợt điều chỉnh tuần qua. Không phải vì tiền đang rẻ đi, mà vì nợ đã đủ nhiều để lãi vay hiện tại trở thành một gánh nặng.

Chính sách tiền tệ nới lỏng chỉ thật sự hiệu quả khi nền kinh tế đang vận hành dưới công suất. Một nền kinh tế tăng gần 10% với lạm phát trên 5% có lẽ đang ở phía ngược lại, và khi đó, tiền rẻ hơn hôm nay thường có nghĩa là lãi suất cao hơn vào ngày mai.

8. Nhận định

Đến đây, xin được phép chia sẻ 2 nhận định cá nhân, với tất cả sự dè dặt cần có khi nói về tương lai.

Thứ nhất, đợt giảm này có lẽ chưa phải khởi đầu của một chu kỳ tiền rẻ, và mặt bằng lãi suất mà nền kinh tế thực sự trả từ nay đến Tết nhiều khả năng sẽ không thấp hơn. Lãi vay niêm yết cho một số lĩnh vực ưu tiên giảm thật, nhưng lãi suất huy động có xu hướng quay đầu tăng trong quý I/2027, khi tiền Kho bạc được rút ra, tiền gửi 6 tháng đáo hạn và người dân rút tiền tiêu Tết.

Nếu đúng như vậy, sẽ không có một kịch bản 2023 nào mở ra cho thị trường chứng khoán, và cũng không có đợt tiền rẻ nào đến với thị trường nhà ở, vốn không nằm trong 5 lĩnh vực ưu tiên và lãi vay mua nhà thả nổi vẫn quanh 12 đến 14%. Luận điểm của bài viết trước đây vì thế có lẽ vẫn tạm thời đúng: giá nhà sẽ phải tự làm phần việc mà lãi suất chưa làm được. Với người đầu tư, điều này có nghĩa là việc mua cổ phiếu hay mua nhà trong tuần này chỉ vì tin lãi suất giảm đang dựa trên một tiêu đề báo nhiều hơn là một thay đổi thực sự trong giá của đồng tiền. Cá nhân tôi không coi đây là tín hiệu để tăng tỷ trọng tài sản rủi ro.

Thứ hai, trong đợt điều chỉnh này người được lợi nhiều nhất có lẽ là các doanh nghiệp lớn có vị thế đàm phán, người chia sẻ chi phí là cổ đông ngân hàng quốc doanh và người gửi tiền ở các ngân hàng lớn, và ngành ngân hàng trong 6 tháng tới nhiều khả năng sẽ phân hóa theo một tiêu chí duy nhất là chi phí vốn.

Ngân hàng nào có tiền gửi không kỳ hạn dồi dào, có nguồn vốn rẻ thực sự, sẽ hấp thụ được 2% này mà không mất gì đáng kể. Ngân hàng nào đang phải huy động ở mức 9 đến 10% để cho vay, hoặc bị thu hẹp biên trong lúc lãi vay đã thấp nhất hệ thống, sẽ khó khăn hơn và nhiều khả năng sẽ thận trọng hơn với nhóm khách hàng không ưu tiên. Mua cổ phiếu ngân hàng với kỳ vọng lãi suất giảm thì tín dụng tăng có lẽ là đọc chưa đúng cơ chế của đợt này.

2 nhận định trên sẽ cần xem lại nếu Ngân hàng Nhà nước hạ lãi suất điều hành trước Tết, hoặc nếu lạm phát 2 tháng tới hạ nhanh xuống dưới 4%. Cá nhân tôi đánh giá cả hai khả năng này đều sẽ thấp, vì Fed đang trong chu kỳ tăng và vì chính cách điều hành thận trọng tuần qua cũng đã phần nào cho thấy dư địa hiện có.

Lời kết

Hãy quay lại chuyến xe ở phần hai. Hành khách tuyến tỉnh được giảm vé thật, và điều đó có ý nghĩa thật với họ. Nhưng nếu đứng ở bến mà nghe người ta bảo giá xăng đã giảm, có lẽ chúng ta sẽ lên nhầm xe. Cái đã giảm là giá vé của một tuyến, còn cái chưa giảm là giá xăng, và chừng nào giá xăng chưa đổi thì nhà xe vẫn phải tìm cách cân đối chi phí theo những cách quen thuộc của họ.

2 tháng trước, 93 Capital viết rằng lãi suất khó có thể giảm như năm 2023. Đến tuần này luận điểm đó có lẽ vẫn đang đúng, vì không thể giảm như năm 2023, nên nó đang được giảm theo cách gần nhất với năm 2012 hơn. Khác biệt là lần này lạm phát quanh 5% thay vì 18%, lãi suất huy động quanh 5 đến 6% thay vì gần 20%, và hệ thống ngân hàng khỏe hơn nhiều so với 14 năm trước, nên hệ quả có lẽ cũng nhẹ hơn tương ứng.

Điểm giống nhau nằm ở cách làm, là điều chỉnh lãi suất bằng định hướng trong lúc nguồn vốn có kỳ hạn không dư, và vì vậy kết quả nhiều khả năng cũng giống về hình dáng: lãi suất niêm yết giảm, lãi suất thực trả giảm ít hơn, và vốn rẻ đến được với người có vị thế trước.

Lãi suất có thể được quyết định trong một chính sách định hướng điều hành, nhưng giá thật sự của đồng tiền, thì được quyết định bởi thị trường, tại quầy gửi tiết kiệm, mỗi sáng.