Ngân hàng lãi tăng 21% nhưng nợ xấu lập đỉnh, lợi nhuận quý 4 sẽ ra sao?

, , , , , , , ,

Ngân hàng lãi tăng 21% nhưng nợ xấu lập đỉnh, lợi nhuận quý 4 sẽ ra sao?

Lợi nhuận ngành ngân hàng tiếp tục tăng trưởng mạnh trong quý 3/2026, nhưng chất lượng tăng trưởng đang xuất hiện những dấu hiệu đáng lo ngại. Tín dụng mở rộng và thu nhập dịch vụ cải thiện giúp lợi nhuận tăng 21% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, nợ xấu hình thành mới tăng lên mức cao nhất kể từ năm 2022, trong khi bộ đệm dự phòng ngày càng mỏng. Điều này đặt ra câu hỏi: Lợi nhuận quý 4 có tiếp tục tăng trưởng khi áp lực xử lý nợ xấu gia tăng?

Trong quý 3, tổng lợi nhuận trước thuế của 28 ngân hàng niêm yết đạt gần 107.000 tỷ đồng, tăng 21% so với cùng kỳ nhưng giảm 4% so với quý trước. Lũy kế 9 tháng, lợi nhuận đạt gần 313.000 tỷ đồng, tăng 20% và hoàn thành khoảng 74% kế hoạch năm. Nhìn chung, ngành vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng tích cực.

Động lực quan trọng nhất đến từ tín dụng. Đến cuối tháng 9, tín dụng toàn hệ thống tăng 11,6% so với đầu năm, trong khi nhóm ngân hàng niêm yết tăng 12,6%. Thu nhập lãi thuần nhờ đó tiếp tục mở rộng. Đáng chú ý, thu nhập thuần từ dịch vụ tăng tới 64% trong 9 tháng, góp phần giảm sự phụ thuộc vào hoạt động cho vay.

Tuy nhiên, tăng trưởng đang phân hóa rõ rệt. VPB ghi nhận lợi nhuận trước thuế 9 tháng tăng 47%, CTG tăng 34%, MBB tăng 32%, BID tăng 25%, trong khi HDB và TCB cùng tăng 24%. Ngược lại, STB giảm 46%, SSB giảm 42% và EIB giảm 58%. Điều này cho thấy không phải ngân hàng nào cũng hưởng lợi như nhau từ tăng trưởng tín dụng.

Điểm đáng quan tâm nhất nằm ở chất lượng tài sản. Riêng quý 3, nợ xấu hình thành ròng toàn ngành vượt 65.500 tỷ đồng, cao nhất trong chuỗi số liệu từ năm 2022 và gấp hơn hai lần cùng kỳ. Nợ nhóm 2, tức các khoản vay bắt đầu có dấu hiệu chậm trả, tăng 18% so với quý trước lên hơn 253.000 tỷ đồng. Tỷ lệ nợ xấu toàn ngành cũng tăng từ 2,02% lên 2,11%.

Đáng lo hơn, tỷ lệ bao phủ nợ xấu giảm từ 78,4% xuống 74,2%, dù chi phí dự phòng quý 3 đã tăng 17% so với quý trước. Điều này phản ánh tốc độ phát sinh nợ xấu đang tạo sức ép lên khả năng dự phòng của các ngân hàng.

Sự khác biệt giữa các ngân hàng cũng đáng chú ý. CTG nâng tỷ lệ bao phủ nợ xấu lên khoảng 160%, cho thấy khả năng chống chịu được củng cố. Trong khi đó, tỷ lệ này tại STB giảm xuống còn 35%, khiến ngân hàng đối mặt với áp lực dự phòng lớn hơn nếu chất lượng tín dụng tiếp tục suy yếu.

Đây chính là yếu tố có thể quyết định lợi nhuận quý 4. Một ngân hàng tăng trưởng tín dụng nhanh chưa chắc duy trì được lợi nhuận cao nếu phải dành phần lớn thu nhập để xử lý nợ xấu phát sinh.

Ở chiều tích cực, áp lực huy động vốn đang có dấu hiệu dịu lại. Khoảng cách giữa tăng trưởng tín dụng và huy động toàn hệ thống thu hẹp từ 3,3 điểm phần trăm cuối quý 2 xuống còn 1 điểm phần trăm cuối quý 3. Dòng tiền từ giải ngân đầu tư công cũng hỗ trợ thanh khoản ngân hàng.

Chi phí vốn vì vậy có khả năng tạo đỉnh trong quý 4. Tuy nhiên, việc giảm lãi suất cho vay có thể khiến biên lãi thuần chưa cải thiện ngay, nhất là khi chi phí huy động vẫn có độ trễ. Biên lãi thuần toàn ngành quý 3 ở mức 3,02%, gần như đi ngang so với quý trước.

Nhìn sang quý 4/2026 và đầu năm 2027, triển vọng ngành ngân hàng vẫn được hỗ trợ bởi tăng trưởng tín dụng và thu nhập dịch vụ. Tuy nhiên, khả năng duy trì lợi nhuận sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào tốc độ hình thành nợ xấu, chi phí dự phòng và diễn biến biên lãi thuần.

Vì vậy, tăng trưởng lợi nhuận 21% chưa đủ để kết luận toàn ngành đang cải thiện đồng đều. Những ngân hàng kiểm soát tốt nợ xấu, duy trì bộ đệm dự phòng vững chắc và bảo vệ được biên lãi sẽ có lợi thế rõ ràng hơn trong các quý tới.

Đối với nhà đầu tư, sự phân hóa này khiến việc lựa chọn cổ phiếu ngân hàng quan trọng hơn việc chỉ nhìn vào tốc độ tăng trưởng lợi nhuận. Nhà đầu tư quan tâm nhóm ngân hàng có thể vào trang tiểu sử để tham khảo phân tích chi tiết về triển vọng và chất lượng tài sản của từng cổ phiếu.

1 Likes