SBT: HSX Công ty Cổ phần Thành Thành Công - Biên Hòa

SBT: Kết quả kinh doanh chịu áp lực từ chu kỳ giảm của giá đường, kỳ vọng phục hồi phụ thuộc giá hàng hóa và hiệu quả tái cơ cấu

SBT đang bước vào giai đoạn tăng trưởng chậm lại khi ngành đường toàn cầu chuyển sang trạng thái dư cung, kéo giá bán giảm mạnh và làm thu hẹp biên lợi nhuận. Mặc dù doanh nghiệp vẫn duy trì quy mô doanh thu lớn và đang mở rộng sang các mảng ngoài đường, áp lực từ đòn bẩy tài chính cao cùng hiệu quả sinh lời suy giảm khiến triển vọng ngắn hạn chưa thực sự hấp dẫn.

KQKD 9T niên độ 2025/26: Doanh thu giảm do giá bán suy yếu, lợi nhuận bị bào mòn

Trong quý 3 niên độ 2025/26, SBT ghi nhận doanh thu thuần đạt 8.231 tỷ đồng (+12,9% YoY) và lợi nhuận sau thuế đạt 246 tỷ đồng (+13,7% YoY) nhờ sản lượng tiêu thụ cải thiện. Tuy nhiên nếu nhìn cả giai đoạn 9 tháng, bức tranh vẫn cho thấy xu hướng suy yếu khi:

Doanh thu thuần đạt 20.336 tỷ đồng (-6,1% YoY).

Lợi nhuận trước thuế đạt 649 tỷ đồng (-6,7% YoY).

Hoàn thành khoảng 77% kế hoạch doanh thu68% kế hoạch lợi nhuận.

Động lực chính khiến kết quả kinh doanh suy giảm đến từ mảng đường – lĩnh vực vẫn đóng góp hơn 86% doanh thu hợp nhất.

Sản lượng tiêu thụ đường 9 tháng đạt khoảng 1 triệu tấn (-2,1%), trong khi giá bán bình quân giảm tới 11,7%, khiến doanh thu mảng đường giảm mạnh.

Nguyên nhân chủ yếu đến từ trạng thái dư cung toàn cầu, khi sản lượng đường tăng nhanh tại Brazil và Ấn Độ trong khi tốc độ tăng nhu cầu tiêu thụ chậm hơn đáng kể.

Biên lợi nhuận xuống vùng thấp nhất 5 năm

Điểm đáng chú ý nhất trong giai đoạn hiện tại là áp lực biên lợi nhuận.

Biên lợi nhuận gộp 9 tháng giảm còn 8,8%, thấp nhất trong vòng 5 năm và giảm 2,4 điểm % so với cùng kỳ.

Nguyên nhân đến từ việc giá bán đầu ra giảm mạnh nhưng chi phí nguyên liệu chưa giảm tương ứng.

Trong cơ cấu đầu vào của SBT, khoảng 38% là mía nguyên liệu nội địa – khu vực vẫn duy trì giá cao do ảnh hưởng thời tiết và chính sách hỗ trợ người nông dân duy trì vùng nguyên liệu.

Điều này khiến lợi nhuận bị “kẹp giữa” giá bán giảm và chi phí đầu vào cứng.

Mặc dù doanh thu tài chính cải thiện nhờ lượng tiền gửi lớn hơn 9.000 tỷ đồng, nhưng phần lợi nhuận tạo thêm chưa đủ bù đắp áp lực từ hoạt động cốt lõi.

Chiến lược mở rộng sang FBMC bắt đầu tạo dấu ấn

Một điểm tích cực đáng theo dõi là quá trình giảm phụ thuộc vào ngành đường.

SBT đang thúc đẩy nhóm sản phẩm FBMC (Thực phẩm – Đồ uống – Sữa – Bánh kẹo) nhằm nâng tỷ trọng doanh thu ngoài đường.

Trong quý 3:

Doanh thu ngoài đường tăng 188% YoY.

Riêng mảng gạo đóng góp khoảng 1.012 tỷ đồng.

Lũy kế 9 tháng, doanh thu nhóm ngoài đường đạt khoảng 2.801 tỷ đồng (+106%).

SBT đặt mục tiêu đến năm 2030, nhóm FBMC sẽ đóng góp khoảng 40% tổng doanh thu.

Đây được xem là hướng đi hợp lý vì nhóm sản phẩm này có biên lợi nhuận cao hơn đáng kể so với mảng đường truyền thống.

Áp lực tài chính vẫn là rủi ro lớn

Bên cạnh câu chuyện vận hành, cấu trúc tài chính đang là yếu tố cần theo dõi sát.

Tổng nợ vay của SBT hiện đạt khoảng 19.282 tỷ đồng, tương đương gần 50% tổng tài sản.

Tỷ lệ Nợ/Vốn chủ sở hữu khoảng 1,6 lần, cao hơn khá nhiều so với mặt bằng ngành.

Đòn bẩy lớn khiến khả năng chống chịu trước biến động lãi suất suy giảm.

Ước tính nếu mặt bằng lãi suất tăng thêm 1%, chi phí lãi vay hàng năm của SBT có thể tăng khoảng 190 tỷ đồng, gây áp lực trực tiếp lên lợi nhuận.

Ngoài ra, các thông tin liên quan đến quá trình phát hành và sử dụng vốn trái phiếu trong quá khứ cũng là yếu tố thị trường cần tiếp tục theo dõi.

Triển vọng Q4 và niên độ 2026/27: Đặt cược vào chu kỳ hồi phục giá đường

SBT kỳ vọng quý cuối niên độ vẫn còn khó khăn:

Doanh thu Q4 dự báo giảm khoảng 8,9% YoY.

Giá bán dự kiến khoảng 17.000 đồng/kg, dù đã phục hồi theo quý nhưng vẫn thấp hơn cùng kỳ.

Tuy nhiên sang niên vụ 2026/27, doanh nghiệp kỳ vọng tăng trưởng trở lại:

Doanh thu dự báo đạt 30.513 tỷ đồng (+14,9%).

Lợi nhuận sau thuế dự báo đạt 884 tỷ đồng (+8,5%).

Động lực đến từ:

Giá đường phục hồi khi thị trường chuyển từ dư cung sang thiếu hụt.

Sản lượng tiêu thụ nội địa cải thiện.

Tăng tỷ trọng doanh thu FBMC.

Biên lợi nhuận gộp kỳ vọng hồi phục lên khoảng 12,5%.

Yếu tố cần theo dõi: Thuế chống bán phá giá đường Thái Lan

Một biến số quan trọng đối với toàn ngành là quyết định rà soát cuối kỳ đối với thuế chống bán phá giá và chống trợ cấp đường Thái Lan dự kiến công bố vào 07/2026.

Nếu chính sách tiếp tục được gia hạn, đây sẽ là yếu tố hỗ trợ đáng kể cho giá đường nội địa cũng như biên lợi nhuận của SBT trong trung hạn.

Quan điểm đầu tư

SBT hiện chưa phải câu chuyện tăng trưởng mạnh trong ngắn hạn. Luận điểm đầu tư chủ yếu đang dựa vào ba yếu tố: chu kỳ hồi phục của giá đường, hiệu quả mở rộng sang FBMC và khả năng kiểm soát đòn bẩy tài chính.

Trong khi đó, mức định giá hiện chưa tạo biên an toàn hấp dẫn.

Do đó, với nhà đầu tư trung dài hạn, SBT phù hợp ở trạng thái theo dõi và chờ điểm mua khi xuất hiện chiết khấu đủ lớn so với giá trị hợp lý, thay vì giải ngân đuổi theo kỳ vọng phục hồi ngắn hạn.

SBT: Lợi nhuận quý 4 tăng nhờ biên lãi gộp cải thiện, nhưng lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh cốt lõi cả niên độ giảm hơn một nửa

Kết quả quý 4 niên độ 2025-2026

Công ty Cổ phần Thành Thành Công - Biên Hòa (SBT), hiện hoạt động dưới thương hiệu TTC AgriS, khép lại niên độ tài chính 2025-2026 (kết thúc 30/06/2026) với quý cuối cùng ghi nhận hai chiều trái ngược. Doanh thu thuần quý 4 (tháng 4-6/2026) giảm 4,1% so với cùng kỳ, còn 6.555 tỷ đồng, nhưng lợi nhuận sau thuế cổ đông công ty mẹ lại tăng 42,8%, đạt 229 tỷ đồng. Nguyên nhân chính đến từ biên lãi gộp mở rộng mạnh, từ 8,3% cùng kỳ lên 13,5% - mức cao nhất trong 17 quý gần đây, giúp lợi nhuận gộp tăng 55,6% dù doanh thu đi xuống.

Diễn biến này gắn với thay đổi trong cơ cấu doanh thu hơn là một sự cải thiện đồng đều. Phần doanh thu giảm chủ yếu rơi vào mảng hàng thương mại vốn có biên lợi nhuận rất mỏng, trong khi giá vốn trên mỗi đồng doanh thu của phần còn lại cũng thực sự hạ xuống. Vì vậy, dù doanh thu quý 4 giảm 20,4% so với quý liền trước, lợi nhuận gộp vẫn tăng 15,2%. Đây không đơn thuần là hiệu ứng cơ cấu, bởi ngay cả khi loại phần doanh thu sụt giảm ra khỏi phép so sánh, biên lợi nhuận gộp của phần doanh thu còn lại ở quý trước cũng chỉ khoảng 11,8%, thấp hơn mức 13,5% của quý này.

Tuy vậy, phần cải thiện ở lợi nhuận gộp không phản ánh trọn vẹn xuống kết quả cuối cùng. Chi phí bán hàng quý 4 tăng lên 338 tỷ đồng, gần gấp đôi cùng kỳ, còn chi phí lãi vay tăng 22,9% lên 469 tỷ đồng. Lợi nhuận gộp tăng thêm 317 tỷ đồng nhưng lợi nhuận trước thuế chỉ tăng thêm 82 tỷ đồng, cho thấy phần lớn mức cải thiện biên gộp đã bị hai khoản chi phí này bào mòn.

Đường vẫn là trụ cột doanh thu, nhưng tăng trưởng lại đến từ mảng biên mỏng

Tính cả niên độ 2025-2026, đường vẫn chiếm khoảng 81% trong tổng doanh thu thuần 26.892 tỷ đồng. Mảng gạo - hoạt động thương mại mua vào bán ra - đóng góp hơn 2.600 tỷ đồng doanh thu với hơn 210.000 tấn tiêu thụ, tương đương khoảng 12,4 triệu đồng một tấn, nhưng gần như không tạo ra lợi nhuận gộp đáng kể: bán nhiều gạo giúp doanh thu hợp nhất tăng nhưng lại kéo biên lợi nhuận gộp chung xuống, và ngược lại khi bán ít đi - đúng như những gì thể hiện trong biến động quý 4. Nhóm nông nghiệp, trái cây, thực phẩm và đồ uống đóng góp hơn 1.000 tỷ đồng doanh thu.

Với mảng đường, giá bán trong nước đang ở vùng thấp nhất ba năm do tình trạng dư cung, cộng thêm áp lực từ đường nhập lậu và đường lỏng nhập khẩu (HFCS), dù chỉ số giá đường trắng thế giới đã nhích lên trong quý 1/2026. Vụ ép 2025-2026 đã kết thúc vào giữa tháng 5/2026, với sản lượng mía ép và đường sản xuất trong niên độ ở mức tương đương các năm gần đây. Tính cả niên độ, biên lợi nhuận gộp chỉ đạt 10%, thấp hơn 10,5% của niên độ trước và là mức yếu nhất trong bảy niên độ gần đây. Một quý đạt 13,5% chưa đủ cơ sở để xem là điểm đảo chiều xu hướng, do phần lớn sản lượng đường của niên độ mới chỉ bắt đầu được ép từ cuối năm 2026.

Song song đó, chi phí bán hàng cả niên độ tăng 35,5%, lên 973 tỷ đồng, gắn với việc doanh nghiệp mở rộng sang ngành hàng tiêu dùng - đầu tư khoảng 500 tỷ đồng vào nhà máy, dây chuyền thực phẩm - đồ uống mới và vùng trồng chuối, dứa tại Gia Lai, Tây Ninh. Đây là khoản chi phí gắn với mở rộng quy mô hoạt động, chưa phải là chi phí có thể giảm nhanh trong ngắn hạn.

Cơ cấu lợi nhuận cả niên độ: hoạt động lõi thu hẹp, phần bù đắp đến từ nguồn ngoài kinh doanh chính

Nhìn tổng thể niên độ, lợi nhuận trước thuế đạt 908 tỷ đồng, giảm nhẹ 4,5% so với 950 tỷ đồng niên độ trước - mức giảm này không phản ánh đúng thực chất diễn biến kinh doanh. Sau khi loại phần lãi từ công ty liên doanh, liên kết, lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh chỉ còn 422 tỷ đồng, giảm 56,8% so với 976 tỷ đồng niên độ trước. Mức đáy rơi vào quý 2 niên độ (tháng 10-12/2025) với vỏn vẹn 2 tỷ đồng, trước khi hồi phục dần ở hai quý cuối.

Phần chênh lệch giữa lợi nhuận trước thuế đi ngang và hoạt động lõi suy giảm mạnh được bù đắp chủ yếu bởi hai nguồn nằm ngoài hoạt động kinh doanh chính: lãi từ công ty liên kết đạt 301 tỷ đồng, gấp gần 9 lần mức 34 tỷ đồng của niên độ trước, và lợi nhuận khác đảo chiều từ âm 60 tỷ đồng lên dương 185 tỷ đồng, tập trung chủ yếu ở quý 2. Khoản lợi nhuận khác này mang tính không lặp lại, nên khó dùng làm cơ sở để ngoại suy cho các quý tiếp theo. Điểm đáng ghi nhận là phần lãi từ công ty liên kết đi kèm dòng tiền thực - cổ tức và tiền lãi nhận được trong niên độ đạt 924 tỷ đồng, so với 378 tỷ đồng niên độ trước, cho thấy đây không chỉ là bút toán kế toán thuần túy.

Đòn bẩy tài chính cao, chi phí lãi vay tiếp tục là gánh nặng lớn

Tính đến cuối niên độ, tổng nợ vay của SBT đạt 17.840 tỷ đồng, tăng 5,5% so với cùng kỳ, trong đó có 976 tỷ đồng trái phiếu chuyển đổi mới phát hành trong quý 4 - huy động từ cổ đông hiện hữu để trả nợ tổ chức tín dụng và một công ty liên quan trong hệ sinh thái. Sau khi trừ tiền và các khoản đầu tư ngắn hạn 9.069 tỷ đồng, nợ vay ròng còn 8.771 tỷ đồng, tương đương 0,74 lần vốn chủ sở hữu cổ đông công ty mẹ. So với cuối quý liền trước, tổng nợ vay đã giảm 1.442 tỷ đồng nhờ nguồn tiền từ đợt phát hành trái phiếu chuyển đổi, cho thấy khoản huy động này được dùng đúng mục đích cơ cấu lại nợ vay.

Dù vậy, chi phí lãi vay cả niên độ vẫn ở mức cao, đạt 1.546 tỷ đồng, tương đương 58% lợi nhuận gộp. Sau khi trừ chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp, phần lợi nhuận gộp còn lại chỉ bằng khoảng 0,63 lần chi phí lãi vay, khiến lợi nhuận trước thuế cả niên độ chỉ tương đương 3,4% doanh thu thuần. Đây là yếu tố cho thấy áp lực tài chính vẫn đang chi phối đáng kể khả năng chuyển hóa lợi nhuận gộp thành lợi nhuận cuối cùng.

Dòng tiền kinh doanh âm năm thứ hai liên tiếp

Lưu chuyển tiền từ hoạt động kinh doanh cả niên độ âm 333 tỷ đồng, sau khi đã âm 606 tỷ đồng ở niên độ trước. Cộng thêm chi cho mua sắm tài sản, dòng tiền tự do âm 1.307 tỷ đồng. Riêng quý 4 dòng tiền kinh doanh dương 786 tỷ đồng - mức dương mạnh nhất trong hai niên độ gần đây, đến từ việc các khoản phải trả tăng và hàng tồn kho giảm khi vụ ép đã kết thúc và lượng đường trong kho được bán ra - nhưng vẫn chưa đủ bù đắp cho ba quý âm liên tiếp trước đó.

Nguyên nhân chính khiến dòng tiền kinh doanh âm trong cả niên độ là biến động các khoản phải thu. Tổng phải thu cuối kỳ đạt 12.995 tỷ đồng, tương đương khoảng một phần ba tổng tài sản, trong đó khoản lớn nhất không phải là phải thu khách hàng (2.662 tỷ đồng) mà là tiền SBT trả trước cho người bán, đạt 6.918 tỷ đồng, tăng 24,2% so với cùng kỳ và tương đương khoảng 104 ngày giá vốn hàng bán của cả niên độ. Đây là khoản mục cần tiếp tục theo dõi, bởi quy mô và tốc độ tăng của nó có ảnh hưởng trực tiếp đến dòng tiền hoạt động của doanh nghiệp.

Triển vọng niên độ tới

Với năm dương lịch 2026, kỳ vọng lợi nhuận sau thuế cổ đông công ty mẹ tăng trưởng trở lại, trên cơ sở biên lãi gộp có khả năng phục hồi khi bước vào vụ ép mới bắt đầu từ cuối năm 2026, cùng với sự mở rộng của các mảng ngoài đường như gạo, nông nghiệp - trái cây - thực phẩm và đồ uống. Đây là những yếu tố có cơ sở từ dữ liệu hiện tại, nhưng mức độ phục hồi thực tế của biên lãi gộp sẽ phụ thuộc lớn vào diễn biến giá đường trong nước - hiện vẫn đang ở vùng thấp nhất ba năm do tình trạng dư cung, đường nhập lậu và đường lỏng nhập khẩu, những yếu tố nằm ngoài khả năng kiểm soát của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, chi phí lãi vay dù đã giảm nhẹ trong quý 4 nhờ tái cơ cấu nợ, vẫn chưa cho thấy dấu hiệu hạ đáng kể trong ngắn hạn.

Đánh giá tổng hợp

Kết quả quý 4 của SBT phản ánh một bức tranh không đồng nhất: lợi nhuận cuối cùng tăng trưởng tốt nhờ biên lãi gộp cải thiện, nhưng tính trên cả niên độ, hoạt động kinh doanh cốt lõi - khi loại bỏ đóng góp từ công ty liên kết và lợi nhuận khác - đã thu hẹp hơn một nửa. Phần bù đắp đến từ hai nguồn nằm ngoài hoạt động chính, trong đó lãi từ công ty liên kết dù có dòng tiền cổ tức thực tế đi kèm nhưng lại phụ thuộc vào kết quả của một pháp nhân khác, còn lợi nhuận khác mang tính không lặp lại. Nhà đầu tư quan tâm đến cổ phiếu này nên tiếp tục theo dõi sát ba yếu tố: diễn biến giá đường trong nước khi vụ ép mới bắt đầu, vì đây là biến số quyết định khả năng phục hồi thực chất của biên lãi gộp; quy mô khoản trả trước cho người bán và tác động của nó lên dòng tiền kinh doanh; và khả năng giảm chi phí lãi vay trong bối cảnh đòn bẩy tài chính vẫn ở mức cao.

Nhà đầu tư quan tâm sâu hơn về cổ phiếu SBT hoặc cần tư vấn danh mục cụ thể có thể liên hệ trực tiếp với Duy Anh qua thông tin tại bio để được hỗ trợ chi tiết.