SHB - Lãi dịch vụ tăng 271% vẫn không bù được đà giảm thu nhập lãi

Theo Techcom Securities, lợi nhuận quý II của SHB giảm 3,1% dù thu nhập dịch vụ tăng mạnh. Trong đó, 75.520 tỷ đồng khoản phải thu từ nghiệp vụ mua hẳn miễn truy đòi bộ chứng từ tăng nhanh, trong khi chất lượng chưa thể đánh giá.

Lợi nhuận giảm dù thu dịch vụ tăng mạnh

Theo báo cáo cập nhật kết quả kinh doanh quý II/2026 của Techcom Securities (TCBS), Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội (SHB) ghi nhận 4.436 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế trong quý II, giảm 3,1% so với cùng kỳ.

Lũy kế 6 tháng, lợi nhuận trước thuế đạt 9.092 tỷ đồng, tăng 1,6% và hoàn thành 51,5% kế hoạch cơ sở năm 2026.

Ảnh: TCBS

Điểm đáng chú ý nằm ở sự thay đổi mạnh trong cơ cấu thu nhập. Thu nhập lãi thuần giảm 26,8%, xuống 6.709 tỷ đồng, trong khi lãi thuần dịch vụ tăng 270,7%, đạt 2.536 tỷ đồng. Nhờ đó, tỷ trọng thu nhập từ phí tăng lên 26,1% tổng thu nhập, từ mức 6,6% cùng kỳ.

Tuy nhiên, theo TCBS, phần tăng thêm từ dịch vụ vẫn chưa bù được khoản sụt giảm của thu nhập lãi thuần. Lãi dịch vụ tăng 1.852 tỷ đồng, trong khi thu nhập lãi thuần giảm tới 2.451 tỷ đồng, khiến tổng thu nhập hoạt động vẫn giảm 6%, còn 9.721 tỷ đồng.

Nguồn thu dịch vụ mới tăng mạnh chủ yếu đến từ dịch vụ thanh toán gắn với nghiệp vụ mua hẳn miễn truy đòi bộ chứng từ, thay vì sự tăng trưởng đồng đều của các dòng phí bán lẻ. TCBS cho biết thu dịch vụ thanh toán trong 6 tháng đạt 3.745 tỷ đồng, so với 910 tỷ đồng cùng kỳ và 2.968 tỷ đồng cả năm 2025.

Biên lãi chịu sức ép từ chi phí vốn

Một điểm khác được TCBS lưu ý là biên lãi ròng của SHB đang chịu áp lực đáng kể từ chi phí vốn.

Trong quý II, chi phí vốn tăng lên 6,3%, từ 4,9% cùng kỳ, trong khi lợi suất tài sản sinh lời chỉ giảm từ 9,8% xuống 9,5%. NIM riêng quý đạt 3,2%, giảm mạnh so với mức 5% cùng kỳ.

TCBS cho rằng áp lực này chưa thể sớm biến mất. Dù tiền gửi khách hàng trong quý tăng 24.074 tỷ đồng, chi phí vốn vẫn tăng từ 5,7% trong quý I lên 6,3% trong quý II. Biên lãi trượt bốn quý đã giảm trong ba quý liên tiếp.

75.520 tỷ đồng phải thu tăng mạnh

Một trong những điểm TCBS dành nhiều lưu ý là các khoản phải thu từ nghiệp vụ mua hẳn miễn truy đòi bộ chứng từ.

Cuối quý II, tài sản Có khác của SHB đạt 99.270 tỷ đồng, tương đương 10,3% tổng tài sản, tăng đáng kể so với mức 6,2% cùng kỳ. Trong đó, các khoản phải thu lên tới 78.021 tỷ đồng.

Riêng khoản phải thu từ nghiệp vụ mua hẳn miễn truy đòi bộ chứng từ theo thư tín dụng do SHB phát hành đạt 75.520 tỷ đồng, tăng từ 61.562 tỷ đồng cuối năm 2025 và 20.592 tỷ đồng cuối năm 2024. Cam kết thư tín dụng ngoại bảng cũng tăng lên 90.160 tỷ đồng.

Theo TCBS, đây không phải khoản cấp tín dụng theo quy định nên không được phân loại chất lượng nợ. Vì vậy, chất lượng của các khoản phải thu này chưa thể đánh giá, trong khi dự phòng trích lập cho toàn bộ tài sản Có khác chỉ ở mức 48 tỷ đồng. Đây là một trong những yếu tố mà nhà đầu tư cần tiếp tục theo dõi.

Nợ xấu giảm nhưng chủ yếu nhờ xóa nợ

Ở chiều tích cực, tỷ lệ nợ xấu của SHB cuối quý II giảm từ 2,6% xuống 2,1%. Tuy nhiên, TCBS lưu ý mức giảm này chủ yếu đến từ việc ngân hàng đẩy mạnh xử lý nợ.

Trong quý II, SHB sử dụng 4.164 tỷ đồng dự phòng để xóa nợ, trong khi nợ xấu mới hình thành khoảng 1.516 tỷ đồng. Nhờ đó, dư nợ nhóm 3-5 giảm 2.648 tỷ đồng, từ 16.320 tỷ xuống 13.672 tỷ đồng.

TCBS đánh giá SHB vẫn thuộc nhóm có tỷ lệ nợ xấu tương đối cao. Công ty chứng khoán này dự báo tỷ lệ nợ xấu có thể nhích lên khi tốc độ xóa nợ chậm lại. Đồng thời, khoản phải thu 75.520 tỷ đồng nói trên cũng nằm ngoài chỉ tiêu nợ xấu thông thường.

Tại mức giá đóng cửa ngày 12/8 là 11.850 đồng/cổ phiếu, SHB đang giao dịch ở P/B 0,7 lần và P/E 5,2 lần. P/B của SHB thấp hơn 44% so với trung vị 1,3 lần của nhóm ngân hàng niêm yết lớn.

TCBS cho rằng mức định giá hiện tại phù hợp để nắm giữ. Tuy nhiên, công ty chứng khoán này lưu ý nhà đầu tư cần theo dõi độ bền của dòng phí dịch vụ, xu hướng giảm của biên lãi và chất lượng khoản phải thu từ nghiệp vụ mua hẳn miễn truy đòi bộ chứng từ.

Trong kịch bản dự phóng, TCBS kỳ vọng SHB đạt 18.943 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế năm 2026, tăng 26,1%. Động lực tăng trưởng chủ yếu đến từ việc chi phí dự phòng trở về mức thông thường và ngân hàng có thể ghi nhận khoảng 1.000 tỷ đồng lợi nhuận khi hoàn tất chuyển nhượng SHBFinance cho Krungsri, dự kiến vào giữa quý III.

6 Likes

Dưới 11

Kênh tài trợ thương mại mới của ngân hàng: khi rủi ro tín dụng không biến mất mà chỉ đổi chỗ trên bảng cân đối

Từ quý 4/2024, trên bảng cân đối của nhiều ngân hàng thương mại cổ phần bắt đầu xuất hiện một khoản mục mới trong nhóm Tài sản có khác: phải thu từ nghiệp vụ mua hẳn miễn truy đòi bộ chứng từ theo thư tín dụng do chính ngân hàng phát hành. Chỉ sau sáu quý, quy mô của nhóm ngân hàng có công bố số liệu đã tăng hơn gấp đôi, từ khoảng 75.000 tỷ đồng cuối năm 2024 lên gần 158.000 tỷ đồng tại quý 2/2026, tương đương khoảng 92% mức đỉnh mà nghiệp vụ UPAS L/C từng đạt được trong giai đoạn 2022. Tốc độ mở rộng này không đến từ nhu cầu tài trợ thương mại tăng đột biến, mà phản ánh một sự dịch chuyển công cụ mang tính kỹ thuật, xuất phát trực tiếp từ thay đổi khung pháp lý có hiệu lực cùng thời điểm.

Bản chất nghiệp vụ và lý do dòng vốn dịch chuyển

Nghiệp vụ này là biến thể của forfaiting, vốn là một sản phẩm tài trợ thương mại quốc tế đã được chuẩn hóa, trong đó một ngân hàng mua lại khoản phải thu theo L/C của nhà xuất khẩu để nhận thanh toán trước, đồng thời gánh luôn rủi ro mất khả năng thanh toán của ngân hàng phát hành và nhà nhập khẩu. Khác biệt mấu chốt ở biến thể đang được ghi nhận tại Việt Nam nằm ở chỗ bên bỏ vốn mua lại bộ chứng từ chính là ngân hàng đã phát hành L/C đó, chứ không phải một bên thứ ba. Nói cách khác, ngân hàng vừa cam kết trả nợ thay khách hàng thông qua L/C trả chậm, vừa tự ứng vốn thanh toán ngay cho bên bán hàng, để rồi ghi nhận khoản đã chi ra như một khoản phải thu trong Tài sản có khác thay vì đưa vào dư nợ cho vay khách hàng. Nghĩa vụ hoàn trả gốc và phí cuối cùng vẫn thuộc về bên đề nghị mở L/C, tức doanh nghiệp nhập khẩu hoặc bên mua hàng trong nước.

Động lực thúc đẩy sự dịch chuyển này gắn trực tiếp với hai thông tư cùng có hiệu lực từ 1/7/2024. Thông tư 21/2024/TT-NHNN siết lại hoạt động UPAS L/C bằng cách buộc ngân hàng phải tính số dư này vào tổng mức dư nợ cấp tín dụng, đồng nghĩa với việc tiêu tốn room tín dụng và chịu các giới hạn phân loại nợ theo Luật các tổ chức tín dụng. Trong khi đó, Thông tư 31/2024/TT-NHNN lại loại trừ chính hoạt động mua hẳn miễn truy đòi bộ chứng từ theo L/C do chính ngân hàng phát hành khỏi phạm vi phân loại nợ và trích lập dự phòng cụ thể, với lập luận rằng đây là một khoản mua bán bộ chứng từ thuộc hoạt động kinh doanh khác chứ không phải hình thức cấp tín dụng. Số liệu quan sát được cho thấy diễn biến hai chiều rất rõ: số dư UPAS L/C toàn nhóm từng đạt đỉnh hơn 171.000 tỷ đồng cuối năm 2022, giảm mạnh ngay khi Thông tư 21 có hiệu lực và về gần bằng 0 từ giữa năm 2025, trong khi số dư phải thu từ nghiệp vụ thay thế xuất hiện lần đầu tại quý 3/2024 và tăng liên tục kể từ đó. Đây là bằng chứng khá rõ cho việc dòng vốn tài trợ thương mại đã dịch chuyển sang cấu trúc mới, nơi mang lại lợi thế lớn hơn về các chỉ tiêu giám sát, hơn là một sự mở rộng thực chất về nhu cầu tài trợ.

Mức độ tập trung và những điểm cần lưu ý trong phân bổ theo ngân hàng

Toàn bộ xu hướng tăng tập trung ở nhóm ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân. Riêng SHB và TCB đã chiếm gần hai phần ba quy mô toàn nhóm tại thời điểm cuối quý 2/2026, với số dư lần lượt đạt khoảng 75.500 tỷ đồng và 26.200 tỷ đồng, tương đương tỷ trọng 48% và 17% trên tổng quy mô. Ở nhóm ngân hàng quốc doanh, chỉ có Vietcombank công bố khoản mục này, với quy mô khiêm tốn và thậm chí giảm 17% trong năm 2025. Điểm đáng chú ý là quy mô nghiệp vụ giữa các ngân hàng không tương quan với năng lực tài trợ thương mại quốc tế thực tế: Vietcombank, ngân hàng dẫn đầu thị trường thanh toán quốc tế Việt Nam, lại có số dư khá nhỏ, trong khi SHB và TCB không thuộc nhóm dẫn đầu về tài trợ thương mại quốc tế nhưng lại chiếm phần lớn quy mô toàn ngành. Tương quan âm này khó giải thích thuần túy bằng nhu cầu tài trợ nhập khẩu, và gợi ý rằng một phần đáng kể số dư có thể đang phục vụ các giao dịch mua bán hàng hóa nội địa giữa hai doanh nghiệp cư trú thông qua L/C nội địa bằng VNĐ, một hình thức vẫn nằm hoàn toàn trong phạm vi cho phép của khung pháp lý hiện hành.

Một điểm cần theo dõi thêm nằm ở cơ cấu kỳ hạn tại Techcombank. Trong bảng phân loại kỳ hạn Tài sản có khác theo báo cáo tài chính, Techcombank có tới 31.082 tỷ đồng thuộc dải kỳ hạn trên một năm đến năm năm, cao hơn cả số dư 26.218 tỷ đồng của chính khoản mục đang được phân tích. Đây là đặc điểm riêng biệt so với các ngân hàng khác trong mẫu quan sát: tại SHB, cấu phần kỳ hạn một đến năm năm chỉ khoảng 139 tỷ đồng trên tổng số dư 61.562 tỷ đồng; tại MB là 101 tỷ đồng trên 16.176 tỷ đồng; tại VPBank gần như bằng 0. Trong khi đó, tài trợ thương mại theo thông lệ hiếm khi có kỳ hạn vượt quá 360 ngày. Sự lệch pha kỳ hạn tại Techcombank vì vậy là một tín hiệu cần kiểm chứng thêm, dù chưa thể kết luận chắc chắn vì Tài sản có khác còn bao gồm nhiều cấu phần khác ngoài khoản mục này.

Rủi ro chính sách là yếu tố cần theo dõi, không phải vấn đề tuân thủ

Về bản chất, đây là hoạt động hợp pháp, được thực hiện đúng theo hướng dẫn hiện hành của Ngân hàng Nhà nước, và không đặt ra vấn đề về tính tuân thủ. Tuy nhiên, rủi ro tín dụng đối với bên đề nghị mở L/C không hề biến mất khi chuyển từ hình thức UPAS L/C sang hình thức mới, mà chỉ đổi vị trí trên bảng cân đối kế toán của ngân hàng: từ một khoản dư nợ cấp tín dụng chịu sự giám sát chặt chẽ, trở thành một khoản phải thu nằm ngoài room tín dụng, không phải phân loại nhóm nợ, không phải trích lập dự phòng cụ thể và không được tính vào các tỷ lệ thanh khoản. Nếu Ngân hàng Nhà nước trong tương lai thu hẹp phạm vi ngoại lệ này tại Thông tư 31, các ngân hàng sẽ phải phân loại lại khoản mục và trích lập dự phòng tương ứng. Tác động trực tiếp lên lợi nhuận trong kịch bản đó nhìn chung không lớn, do mức trích lập dự phòng chung 0,75% trên số dư hiện tại chỉ tương đương vài chục đến vài trăm tỷ đồng đối với từng ngân hàng. Tác động đáng kể hơn nằm ở room tín dụng: một khi khoản mục này được tính vào dư nợ cấp tín dụng, nó sẽ chiếm dụng hạn mức tăng trưởng đã được cấp, buộc ngân hàng phải giảm tốc độ cho vay mới hoặc xin nới thêm room. Ảnh hưởng sẽ rõ rệt hơn ở những ngân hàng có quy mô nghiệp vụ này lớn tương đối so với dư nợ cấp tín dụng hiện hữu, đồng thời có thể kéo theo rủi ro thứ cấp nếu chất lượng tài sản thực của danh mục tài trợ thương mại này không đồng đều như số dư sổ sách thể hiện.

Nhìn chung, sự mở rộng nhanh của nghiệp vụ mua hẳn miễn truy đòi bộ chứng từ theo L/C do chính ngân hàng phát hành là một hiện tượng đáng chú ý hơn là một câu chuyện tăng trưởng. Với quy mô toàn ngành đã tiệm cận mức đỉnh cũ của UPAS L/C chỉ sau sáu quý, và mức độ tập trung cao tại một số ngân hàng cụ thể, nhà đầu tư theo dõi nhóm cổ phiếu ngân hàng nên xem đây là một yếu tố cần đưa vào khung đánh giá chất lượng tài sản, bên cạnh các chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng, nợ xấu và thanh khoản công bố chính thức. Diễn biến chính sách liên quan đến phạm vi ngoại lệ tại Thông tư 31, cùng với khả năng cơ quan quản lý điều chỉnh cách phân loại khoản mục này trong thời gian tới, là điểm cần tiếp tục theo dõi, đặc biệt đối với các ngân hàng có tỷ trọng số dư nghiệp vụ này ở mức cao so với quy mô tín dụng doanh nghiệp.

Nhà đầu tư quan tâm đến diễn biến nhóm cổ phiếu ngân hàng và cần tư vấn đầu tư cá nhân hóa có thể liên hệ Duy Anh qua trang bio để được hỗ trợ chi tiết hơn.