Vì sao hệ sinh thái Hiển Mít cắm đầu? - Phần 2

,

SHB - Điểm rủi ro và cập nhật quý 2/2026

Điểm chú ý:

  • Lợi nhuận giữ nhịp nhưng chất lượng thay đổi: LNTT quý II đạt 4.436 tỷ đồng (-3,1% YoY); thu nhập lãi thuần giảm mạnh, trong khi phí dịch vụ tăng nhanh và chiếm 26,1% tổng thu nhập.
  • NPL giảm chủ yếu nhờ xóa nợ: SHB dùng 4.164 tỷ đồng dự phòng để xóa nợ, đưa NPL về 2,1%; do đó, mức giảm NPL không đồng nghĩa rủi ro tín dụng đã biến mất.
  • Khoản phải thu là điểm cần thẩm định kỹ: Phải thu từ mua hẳn miễn truy đòi bộ chứng từ đạt 75.520 tỷ đồng, không nằm trong chỉ tiêu phân loại nợ; chất lượng chưa thể đánh giá theo cách thông thường.
  • Triển vọng 2026 phụ thuộc vào giả định: TCBS dự phóng LNTT 18.943 tỷ đồng, dựa vào chi phí dự phòng bình thường hóa và kỳ vọng gần 1.000 tỷ đồng lãi chuyển nhượng SHBFinance trong quý III.
  • Tập trung vào bất động sản vẫn lớn: Dư nợ hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 221.216 tỷ đồng, chiếm 33,5% tổng dư nợ và tăng 7,7% so với cuối 2025. Khi cộng xây dựng, hai ngành chiếm 44,1% dư nợ; do đó, sức khỏe tài sản và lợi nhuận của SHB vẫn nhạy với chu kỳ bất động sản.

1. Cập nhật kết quả kinh doanh quý II/2026

  • Lợi nhuận trước thuế quý II đạt 4.436 tỷ đồng, giảm 3,1% so với cùng kỳ và giảm 4,7% so với quý I. Lũy kế sáu tháng, LNTT đạt 9.092 tỷ đồng (+1,6% YoY), tương đương 51,5% kế hoạch cơ sở năm 2026 của SHB. Tổng thu nhập hoạt động quý II đạt 9.721 tỷ đồng, giảm 6,0% YoY; lợi nhuận sau thuế đạt 3.562 tỷ đồng (-2,3% YoY).

  • Điểm đáng chú ý: cơ cấu thu nhập của SHB đã thay đổi rõ rệt. Nguồn thu truyền thống từ cho vay (thu nhập lãi thuần) giảm 26,8% xuống còn 6.709 tỷ đồng — nhưng được bù lại nhờ phí dịch vụ tăng vọt 270,7% lên 2.536 tỷ đồng. Phần tăng này gần như đến từ một nghiệp vụ duy nhất: SHB “ứng tiền trước” cho doanh nghiệp xuất khẩu bằng cách mua lại bộ hồ sơ thanh toán quốc tế trước khi đối tác nước ngoài trả tiền — chứ không đến từ việc mở rộng đồng đều các loại phí ngân hàng bán lẻ thông thường (chuyển tiền, phí thẻ…).

Hàm ý rủi ro

Dòng phí mới giúp bù đắp suy giảm ở thu nhập lãi, nhưng quy mô phụ thuộc vào khối lượng bộ chứng từ mua vào từng quý. Vì vậy, độ bền doanh thu và khả năng lặp lại của lợi nhuận là điểm chưa chắc chắn quan trọng.

2. Biên lãi, nguồn vốn và hiệu quả vận hành

  • NIM riêng quý II phục hồi lên 3,2% (+0,5 điểm % QoQ) nhưng vẫn thấp hơn nhiều so với 5,0% của cùng kỳ; NIM trượt bốn quý là 2,6% và đã giảm ba quý liên tiếp. Nguyên nhân chủ yếu nằm ở chi phí vốn: chi phí vốn riêng quý lên 6,3%, từ 4,9% cùng kỳ và 5,7% quý I, trong khi lợi suất tài sản sinh lãi chỉ giảm nhẹ từ 9,8% xuống 9,5%.

  • Tiền gửi khách hàng tăng 4,0% QoQ, trong đó CASA đóng góp 8.694 tỷ đồng; giấy tờ có giá giảm 17,5%. Tuy nhiên, CASA vẫn ở mức 7,8% và tỷ lệ cho vay trên tiền gửi khách hàng là 105,7%. Nguồn vốn giá cao ký từ nửa cuối 2025 được nhận định sẽ dần đáo hạn, nhưng lãi suất cho vay cũng đang đi xuống; do đó, kịch bản cơ sở là NIM nửa cuối năm đi ngang hơn là cải thiện mạnh.

Điểm chưa chắc chắn

Biên lãi có thể chịu áp lực nếu chi phí huy động không giảm theo kỳ vọng, đặc biệt khi nền CASA thấp khiến chi phí vốn nhạy hơn với lãi suất thị trường. Dư địa cắt giảm chi phí vận hành không lớn vì CIR quý II chỉ 15,0%, dù chi phí quý IV thường tăng mạnh.

3. Chất lượng tài sản: cải thiện báo cáo, nhưng cần nhìn sau tác động xóa nợ

  • Nợ xấu nhóm 3-5 cuối quý II giảm từ 16.320 tỷ đồng xuống 13.672 tỷ đồng, kéo tỷ lệ NPL từ 2,6% xuống 2,1% và nâng tỷ lệ bao phủ nợ xấu lên 82,5%. Tuy nhiên, mức cải thiện này phần lớn đến từ 4.164 tỷ đồng nợ được xóa bằng dự phòng, gấp khoảng 10 lần quý I. Nợ xấu mới hình thành trong quý vẫn khoảng 1.516 tỷ đồng; vì vậy, xu hướng NPL cần được theo dõi thêm khi tốc độ xóa nợ chậm lại.

  • Chi phí dự phòng quý II là 3.825 tỷ đồng, tương đương chi phí tín dụng quy năm 2,4%, cao hơn 1,3% của cả năm 2025. TCBS đánh giá phần nợ tồn đọng 2023-2024 đang được xử lý thực chất, nhưng SHB vẫn nằm trong nhóm có NPL cao và mức bao phủ thấp hơn nhiều ngân hàng lớn.

Điểm cần phân biệt

NPL 2,1% chỉ đo trên danh mục cho vay. Chỉ tiêu này không bao gồm các khoản phải thu từ mua hẳn miễn truy đòi bộ chứng từ; do đó, không nên xem tỷ lệ NPL giảm là bức tranh đầy đủ về mọi rủi ro tài sản.

4. Rủi ro tập trung danh mục và khoản phải thu ngoài khung phân loại nợ

  • Theo thuyết minh BCTC hợp nhất quý II/2026 mà người dùng cung cấp, dư nợ hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 221.216 tỷ đồng, chiếm 33,5% tổng dư nợ 659.611 tỷ đồng và tăng 7,7% so với cuối 2025. Dư nợ xây dựng là 69.440 tỷ đồng (10,5%), giảm 23,7% so với cuối 2025. Gộp hai ngành, dư nợ đạt 290.656 tỷ đồng, tương đương 44,1% danh mục - giảm tỷ trọng từ 48,2% cuối 2025, nhưng vẫn là mức tập trung đáng kể. Việc dư nợ BĐS riêng lẻ vẫn tăng về giá trị tuyệt đối cho thấy rủi ro chu kỳ chưa giảm tương ứng với mức giảm tỷ trọng chung.

  • Tài sản Có khác cuối quý II lên 99.270 tỷ đồng, chiếm 10,3% tổng tài sản; trong đó khoản phải thu là 78.021 tỷ đồng. Gần như toàn bộ đến từ mua hẳn miễn truy đòi bộ chứng từ theo thư tín dụng do SHB phát hành, với giá trị 75.520 tỷ đồng, tăng từ 61.562 tỷ đồng cuối 2025 và 20.592 tỷ đồng cuối 2024. Cam kết thư tín dụng ngoại bảng cũng tăng lên 90.160 tỷ đồng.

  • ác khoản phải thu này không phải cấp tín dụng theo quy định nên không được phân loại chất lượng nợ. Trong khi đó, dự phòng cho toàn bộ tài sản Có khác chỉ 48 tỷ đồng. Báo cáo không kết luận khoản phải thu có vấn đề, nhưng cho biết chất lượng chưa thể đánh giá theo khung nợ truyền thống - đây là bất định nổi bật nhất trong bức tranh rủi ro.

Rủi ro cơ cấu bảng cân đối

Ngoài tập trung bất động sản/xây dựng, 41,2% dư nợ là cho vay dài hạn trên nền vốn chủ yếu ngắn hạn. Kết hợp với tốc độ tăng nhanh của khoản phải thu chưa phân loại, điều này làm rủi ro tập trung và kỳ hạn cần được giám sát sát sao.

5. Rủi ro pháp lý và tác động tới danh mục bất động sản của SHB

  • Mức độ tác động của pháp luật tới SHB không đến từ việc luật tự động làm xấu các khoản vay, mà qua tiến độ pháp lý dự án, khả năng huy động vốn và dòng tiền bán hàng của khách hàng bất động sản. Với dư nợ kinh doanh bất động sản 221.216 tỷ đồng (33,5% tổng dư nợ) và tổng bất động sản cộng xây dựng 44,1%, bất kỳ sự chậm trễ hoặc chi phí tuân thủ đáng kể nào ở dự án có thể làm kéo dài kỳ giải ngân, chậm dòng tiền trả nợ và làm giảm giá trị/khả năng thanh khoản của tài sản bảo đảm.

  • Luật Đất đai 2024, Luật Nhà ở 2023 và Luật Kinh doanh bất động sản 2023 cùng có hiệu lực từ 01/08/2024 theo Luật 43/2024/QH15. Khung mới có thể hỗ trợ thị trường về dài hạn khi chuẩn hóa điều kiện dự án, tính minh bạch và thủ tục đất đai. Tuy nhiên, ở cấp độ từng dự án, việc xác định nghĩa vụ tài chính về đất, hoàn thiện hồ sơ giao/thuê đất, giải phóng mặt bằng, quy hoạch và cấp giấy chứng nhận vẫn là các nút thắt thực thi. Với SHB, rủi ro cần thẩm định là “tính sẵn sàng pháp lý và dòng tiền” của từng dự án, thay vì chỉ nhìn vào giá trị tài sản bảo đảm.

  • Luật Kinh doanh bất động sản 2023 tạo kỷ luật vốn và bán hàng chặt hơn: doanh nghiệp dự án phải duy trì vốn chủ sở hữu tối thiểu 20% tổng vốn đầu tư đối với dự án dưới 20 ha, hoặc 15% với dự án từ 20 ha; tiền đặt cọc chỉ được thu khi bất động sản đã đủ điều kiện đưa vào kinh doanh và không quá 5% giá bán/thuê mua. Các quy định này cải thiện bảo vệ người mua và minh bạch hóa thị trường, nhưng có thể làm giảm tính linh hoạt của nguồn tiền ứng trước trong giai đoạn chuyển tiếp. Hệ quả tín dụng là chủ đầu tư có pháp lý chưa hoàn chỉnh hoặc vốn tự có mỏng có thể chịu áp lực vốn lưu động lớn hơn, khiến tiến độ và khả năng trả nợ nhạy hơn với thanh khoản thị trường.

  • Luật Các tổ chức tín dụng 2024 bổ sung một lớp kiểm soát từ phía ngân hàng thông qua yêu cầu quản trị rủi ro và giới hạn cấp tín dụng. Đối với SHB, điều này làm tăng tầm quan trọng của việc giám sát giới hạn theo khách hàng/nhóm khách hàng liên quan, liên kết giữa khoản vay dự án với tài sản bảo đảm và nguồn trả nợ, đặc biệt khi danh mục bất động sản tập trung. Tác động có thể tích cực cho chất lượng tín dụng dài hạn, nhưng cũng có thể khiến giải ngân hoặc tái cơ cấu các khoản vay lớn phức tạp hơn nếu hồ sơ pháp lý/dòng tiền chưa đủ rõ.

Kết luận rủi ro pháp lý

Khung pháp luật mới không mặc định là tiêu cực: dự án pháp lý sạch, vốn chủ sở hữu tốt và thanh khoản thực có thể hưởng lợi từ thị trường minh bạch hơn. Rủi ro nằm ở các dự án chậm hoàn thiện pháp lý, phụ thuộc mạnh vào tiền đặt cọc/khách hàng trả trước hoặc có nghĩa vụ đất đai chưa xác định. Đây là nhóm cần theo dõi ưu tiên trong danh mục bất động sản của SHB.

6. Định giá, triển vọng và các điều kiện để kỳ vọng 2026 được hiện thực hóa

  • Tại giá đóng cửa 12/08/2026 là 11.850 đồng, SHB giao dịch ở P/B 0,7 lần và P/E 5,2 lần, thấp hơn lần lượt 44% và đáng kể so với trung vị nhóm ngân hàng lớn. Vùng định giá này phù hợp để nắm giữ, với điều kiện tiếp tục theo dõi tính ổn định của doanh thu, lợi nhuận, chất lượng khoản phải thu và mức tập trung tín dụng vào bất động sản.

  • LNTT 2026 được dự phóng đạt 18.943 tỷ đồng (+26,1% YoY), sát kịch bản tích cực 19.165 tỷ đồng của ĐHĐCĐ. Dự phóng đặt trên hai điều kiện chính: chi phí dự phòng cả năm chỉ quanh 7.950 tỷ đồng sau khi quý II đã xử lý phần lớn nợ tồn đọng, và SHB có thể ghi nhận gần 1.000 tỷ đồng lợi nhuận khi hoàn tất chuyển nhượng SHBFinance cho Krungsri vào giữa quý III.
  • Vốn chủ sở hữu tăng thêm 10.018 tỷ đồng từ 01/07/2026 củng cố khả năng tăng trưởng nhưng cũng pha loãng hiệu quả sinh lời trong ngắn hạn. ROE trượt bốn quý giảm còn 17,2%; trên nền vốn mới, ROE được ước tính tương ứng khoảng 14,2%. Theo báo cáo, ROE có thể tiếp tục giảm trong hai quý cuối năm trước khi ổn định trở lại khi vốn mới được đưa vào cho vay.

Rủi ro thực thi dự phóng

Nếu thương vụ SHBFinance chậm hơn kỳ vọng, trích lập không giảm như giả định, hoặc dòng phí thanh toán suy yếu, chênh lệch giữa kết quả thực tế và dự phóng 2026 có thể đáng kể. Định giá thấp phản ánh một phần các rủi ro này, nhưng không tự loại bỏ rủi ro vận hành và chất lượng tài sản.

7. Kết luận: cách đọc cân bằng về SHB sau quý II

  • Báo cáo quý II cho thấy SHB đã xử lý mạnh nợ tồn đọng, duy trì lợi nhuận tuyệt đối cao và có thêm vốn cho tăng trưởng. Tuy nhiên, nền tảng lợi nhuận chưa thật sự vững: thu nhập lãi suy giảm, NIM chịu áp lực chi phí vốn và mức giảm NPL chịu tác động lớn của xóa nợ. Phần bù từ phí dịch vụ đang có ý nghĩa quyết định, nhưng lại gắn với một nghiệp vụ mới có độ minh bạch chất lượng tài sản thấp hơn khung cho vay thông thường.
  • Theo đó, điểm then chốt không phải chỉ là SHB có hoàn thành kế hoạch lợi nhuận 2026 hay không, mà là mức độ lặp lại của dòng phí, diễn biến chi phí vốn, nhu cầu dự phòng tiếp theo và thông tin chi tiết hơn về khoản phải thu. Đây là các biến số quyết định liệu mức định giá thấp có phản ánh cơ hội cải thiện hay một phần bù rủi ro kéo dài.

Để nhận thêm những khuyến nghị và tư vấn. NĐT liên hệ
MR Dương Lớ
Trưởng phòng TVĐT VPS

Đọc phần 2 xong mình thấy ôm SHB cho trung hạn quá ổn.

Trung hạn hay dài hạn chưa nói được cái gì. Nhưng mà cái khoản kéo lên 18 phát hành 12.5k thu tiền về. Trong khi đó cả nhà chúng nó không mua vào bất cứ 1 quyền mua nào là hiểu!! Lũ khốn nạn

bài này cụ Dương làm hay TCBS làm vậy mà cụ để Cre ở dưới nhỉ