BCG – đi cùng doanh nghiệp trên hành trình tới VN30

Công thức của ngài chum: đầu tuần hô yên ổn tốt đẹp, cuối tuần hô khô máu.


Mặc dù dầu mỏ đã luôn chiếm ưu thế trong các cuộc thảo luận về chính sách, những sự kiện gần đây cho thấy các loại hàng hóa khác cũng đóng vai trò then chốt trong việc định hình các kết quả kinh tế vĩ mô.
Các tác giả nhận thấy rằng tác động gây ra tình trạng lạm phát đình trệ (stagflation) từ những đứt gãy cung ứng hàng hóa phát sinh ngoài thị trường dầu mỏ cũng có tầm quan trọng tương đương đối với cả sản lượng và lạm phát.

Nghiên cứu đưa ra hai hiểu biết cốt lõi.
1.Sự gián đoạn nguồn cung trong thị trường kim loại, ngũ cốc và chăn nuôi có thể tạo ra các hiệu ứng kinh tế vĩ mô tương đương với các cú sốc dầu mỏ. Khi những đứt gãy cung ứng bất lợi tác động đến các nhóm hàng hóa phi dầu mỏ này, lạm phát sẽ tăng cao dai dẳng trong khi sản xuất công nghiệp sụt giảm, mô phỏng sát sao động thái lạm phát đình trệ thường thấy trong các đợt tăng giá dầu đột ngột.
2.Tác động kinh tế vĩ mô của sự gián đoạn cung ứng hàng hóa thay đổi tùy theo mức độ tiếp xúc với thương mại hàng hóa của các quốc gia. Các nước nhập khẩu ròng phải đối mặt với sự chuyển dẫn lạm phát mạnh mẽ hơn và sản xuất công nghiệp sụt giảm sâu hơn, trong khi các nước xuất khẩu ròng vẫn được bảo vệ một phần.

Các ước tính sai phân trong sai phân (difference-in-differences aka. DiD) khi cho tương tác giữa các thước đo đứt gãy cung ứng với cán cân thương mại hàng hóa của các quốc gia đã xác nhận mô hình phân hóa này.

VDT

Tôi có hai giả thuyết mà hiện nay tôi chưa chứng minh được.
Giả thuyết thứ nhất là cuộc chiến tại Iran dẫn đến việc phong toả eo Hormuz sẽ làm tăng vai trò cung cấp nhiên liệu hoá thạch của Mỹ cho toàn cầu và quan trọng hơn là tạo ra động lực để hồi sinh 330 tỷ thùng dầu thô đang nằm yên dưới lòng đất của Venezuela.
Quan trọng hơn cả, nếu Mỹ cung cấp được năng lượng giá thấp hơn các khu vực khác, lại không lo ngại về an ninh và bảo hiểm thì các trung tâm sản xuất mới có hy vọng quay trở lại Mỹ. Suy cho cùng không ai đặt nhà máy ở một nơi không có chuỗi cung ứng và xa nguồn cung năng lượng. Đương nhiên, nhiên liệu hoá thạch không đóng nhiều vai trò trong đảm bảo an ninh năng lượng nữa khi mà nhiệt điện, điện hạt nhân, thuỷ điện và điện tái tạo ngày càng phổ biến. Nhưng nhiên liệu hoá thạch và các sản phẩm phái sinh của nó là thứ mà chưa có loại “vật liệu” nào trên trái đất thay thế được để sản xuất từ công nghiệp tới nông nghiệp từ giải trí đến bay vào vũ trụ.
Trong tương lai nếu Mỹ thực sự quyết tâm “đào dầu và khí” thì đúng là cần đảm bảo châu Mỹ thuộc về an ninh của Mỹ - học thuyết Monroe đúng là vẫn hiệu nghiệm.

Giả thuyết thứ hai là cuộc chiến tại Iran - trong trường hợp kéo dài nhì nhằng - sẽ trao cho Israel cơ hội trở thành quốc gia đảm bảo an ninh cho Vùng Vịnh với sự hỗ trợ của Mỹ.

Và cả hai điều này có thể sẽ vẽ lại các bản đồ địa-chính trị hiện thời cũng như tạo ra nhu cầu lớn về việc kiểm soát Greenland trong tương lai gần.
Bởi lẽ khi dòng chảy năng lượng được vẽ lại thì các điểm nóng như Biển Đỏ hay eo Hormuz sẽ khiến chi phí bảo hiểm tăng và nhu cầu đi lại qua các khu vực này giảm xuống. Cùng với việc Nga bị chặn tại Biển Đen thì tuyến hàng hải của tương lai sẽ là Bắc Cực và vùng Tây Thái Bình dương.

Tôi có cảm giác rằng địa chính trị đã được vẽ lại, mọi sự kiện đều là một mảnh ghép. Và cuộc chiến tại Iran có thể không phải ngẫu nhiên. Hãy xem kết quả dài hạn của cuộc chiến sẽ như thế nào, còn bây giờ cứ nhẩn nha ngồi xếp puzzles thôi.

Cái này đọc cho vui: giá LNG nhảy múa giữa các khu vực như thế nào?
Giá khí đốt ở châu Á và châu Âu đã tăng vọt trong tháng 3 lên mức cao nhất kể từ cuộc khủng hoảng khí đốt năm 2022/23, với gần 20% nguồn cung LNG toàn cầu bị gián đoạn tại eo biển Hormuz.
Tại châu Á, giá JKM đã tăng hơn gấp đôi trong hai ngày giao dịch đầu tiên sau khi eo biển Hormuz đóng cửa và đạt mức trung bình 20 USD/mmbtu trong suốt tháng 3 – mức cao nhất kể từ tháng 1 năm 2023.
Thị trường châu Á là những thị trường chịu ảnh hưởng trực tiếp nhất bởi sự gián đoạn nguồn cung hiện tại, với Hormuz chiếm hơn 25% nguồn cung LNG của khu vực.
Không có gì đáng ngạc nhiên, sự biến động giá đã lên tới mức chóng mặt 300% đối với JKM – mức trung bình hàng tháng cao thứ ba trong lịch sử. Chênh lệch giữa JKM và TTF đạt mức trung bình 2 USD/mmbtu trong suốt tháng 3 – quá đủ để chuyển hướng các lô hàng LNG linh hoạt từ châu Âu sang châu Á.
Trong khi đó tại châu Âu, giá khí đốt TTF kỳ hạn một tháng đã tăng vọt 60% so với tháng 2, đạt mức trung bình gần 18 USD/mmbtu – mức cao nhất hàng tháng kể từ ngày 23 tháng 1.
Mặc dù châu Âu ít chịu ảnh hưởng trực tiếp từ eo biển Hormuz, nhưng tất cả chúng ta đều đang sống trong một thị trường khí đốt toàn cầu hóa. Nhập khẩu LNG của châu Âu bắt đầu giảm mạnh trong nửa cuối tháng Ba, do nguồn cung LNG giảm và sự cạnh tranh với thị trường châu Á ngày càng gay gắt.
Giá khí đốt cao đang thúc đẩy việc chuyển đổi từ khí đốt sang than đá trong ngành điện, mặc dù cần thời gian để quá trình này phát huy tác dụng hoàn toàn…
Ngược lại, tại Mỹ, giá khí đốt Henry Hub đã giảm khoảng 25% so với cùng kỳ năm ngoái, xuống mức trung bình 3,1 USD/mmbtu, do thời tiết ôn hòa hơn, sản lượng trong nước mạnh mẽ và lượng dự trữ dồi dào đang gây áp lực giảm giá khí đốt.
Và xa hơn nữa ở lưu vực Permian, giá khí đốt tại trung tâm Waha đang giao dịch ở mức âm sâu, trung bình là -3,8 USD/mmbtu trong suốt tháng 3 – mức thấp nhất hàng tháng được ghi nhận.

PST

CÁI GIÁ CỦA CHIẾN TRANH? RẤT KHÓ ƯỚC LƯỢNG ĐƯỢC CHÍNH XÁC VÌ TỔN THẤT LÀ CẢ VỀ KINH TẾ VÀ PHI KINH TẾ.

Chỉ trong vòng vài tuần ngắn ngủi, việc bóp nghẹt lưu thông vận tải qua eo biển Hormuz đã hé lộ bản chất thực sự của cuộc chiến giữa Mỹ - Israel với Iran.

Đây không còn là một cuộc xung đột khu vực, bởi toàn bộ thế giới đang bị buộc phải nhận “hóa đơn” thanh toán. Dù con số cuối cùng vẫn chưa được xác định, nhưng đã quá rõ ràng rằng những bên tham chiến không phải là những người duy nhất phải trả tiền.

Chiến tranh thường được đặt trong khuôn khổ của an ninh quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, nhân đạo, hay thậm chí là cuộc đấu tranh giữa các nền văn minh. Nhưng những lý lẽ đó đã che đậy một sự thật đáng lo ngại: chiến tranh là một trong những hoạt động của con người bị định giá sai lầm nhất.

Những kẻ khơi mào hiếm khi phải gánh chịu toàn bộ chi phí; thay vào đó, các khoản phí này có xu hướng bị đẩy sang các biên giới khác, các thị trường khác và sang cả tương lai. Ngoài những hủy diệt về vật chất, chiến tranh tạo ra những ngoại ứng tiêu cực khổng lồ. Cái giá mà kẻ thủ ác phải trả chỉ phản ánh một phần rất nhỏ so với chi phí thực tế của xã hội.

Tất nhiên, trực giác cho rằng chiến tranh gây ra các chi phí hệ quả lên bên thứ ba đã bén rễ sâu trong các tài liệu kinh tế - chính trị, từ Adam Smith và David Ricardo đến John Maynard Keynes và Karl Polanyi. Tuy nhiên, toàn cầu hóa đã biến hiệu ứng này thành một đặc điểm cấu trúc của nền kinh tế hiện đại.

Hãy xem xét phép tính của cuộc xung đột Iran hiện nay. Ngoài những tổn thất về sinh mạng, chi tiêu quân sự trực tiếp của Hoa Kỳ có thể lên tới hàng chục hoặc thậm chí hàng trăm tỷ đô la (con số đã là 12,7 tỷ đô la chỉ sau một tuần giao tranh).

Tuy nhiên, chi phí kinh tế rộng lớn hơn — được truyền tải qua các thị trường năng lượng, thực phẩm và tài chính — còn cao hơn nhiều. Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cảnh báo rằng cuộc chiến đang làm xói mòn triển vọng tăng trưởng của nhiều nền kinh tế, khi các cú sốc năng lượng lan rộng và áp lực lạm phát gia tăng.

Cơ chế truyền dẫn này đơn giản đến tàn nhẫn. Khi giá dầu và khí đốt tăng, chi phí vận tải và điện năng trở nên đắt đỏ hơn. Khi chi phí phân bón tăng, giá lương thực cũng tăng theo. Các ngân hàng trung ương có thể phản ứng bằng cách thắt chặt chính sách tiền tệ. Cuối cùng, tăng trưởng chậm lại.

Tuy nhiên, hiệu ứng domino này lại thiếu vắng trong bảng kế toán chiến tranh thực tế. Các nỗ lực đo lường chi phí thực sự của chiến tranh luôn chỉ ra rằng chúng nằm ngoài chiến trường.

Trong nghiên cứu về chiến tranh Iraq, Joseph E. Stiglitz và Linda Bilmes đã thống kê danh mục chi phí lên tới hàng nghìn tỷ đô la khi tính cả các tác động kinh tế vĩ mô. Tương tự, cả IMF và Ngân hàng Thế giới đều nhận thấy rằng các xung đột bạo lực làm suy giảm tăng trưởng ở cả những nền kinh tế cách xa vùng chiến sự.

Ngay cả với những giả định thận trọng nhất, Hoa Kỳ có thể chỉ chịu một phần khiêm tốn trong tổng thiệt hại kinh tế toàn cầu (giống như việc các tác động tiêu cực lan tỏa từ cuộc chiến ở Ukraine vượt xa chi phí trực tiếp của Nga).

Như Chủ tịch Ngân hàng Trung ương Châu Âu Christine Lagarde đã cảnh báo gần đây, phần còn lại bị khuếch tán khắp hệ thống, bị hấp thụ bởi các quốc gia nhập khẩu năng lượng, các thị trường mới nổi và các hộ gia đình trên toàn thế giới. Theo nghĩa này, chiến tranh đang được “trợ cấp” trên quy mô toàn cầu.

Ba cơ chế khiến điều này trở nên khả thi.

Thứ nhất là không gian. Các nền kinh tế hiện đại kết nối sâu sắc với nhau. Khi chiến tranh làm gián đoạn một nút thắt (đặc biệt là các điểm nghẽn năng lượng), các tác động sẽ đổ dồn ra ngoài. Eo biển Hormuz không đơn thuần là một lối đi địa lý mà là một lỗ hổng cấu trúc trong nền kinh tế toàn cầu.

Cơ chế thứ hai là thời gian. Chiến tranh thường đòi hỏi hiện tại phải vay mượn từ tương lai. Các chính phủ tài trợ cho xung đột thông qua nợ công, trì hoãn chi phí của nó sang các thế hệ thậm chí còn chưa có đại diện về mặt chính trị. Hệ quả tài khóa của các cuộc chiến trong quá khứ vẫn tiếp tục kéo dài hàng thập kỷ sau đó, biểu hiện qua nợ công, các lựa chọn chính sách bị hạn chế và những nghĩa vụ tồn tại lâu hơn cả nền chính trị đã tạo ra chúng.

Cơ chế thứ ba là phân phối. Chiến tranh tập trung quyền ra quyết định nhưng lại phân tán chi phí. Những người quyết định không phải là những người trả tiền. Sự hiểu biết cuối cùng này nằm ở trọng tâm của kinh tế học xung đột hiện đại. Nhà kinh tế học Paul Collier của Đại học Oxford đã chỉ ra rằng các cuộc chiến kéo dài không phải vì chúng hợp lý về mặt tập thể, mà vì chúng có lợi về mặt cá nhân.

CÁC NHÓM NHỎ THÂU TÓM LỢI NHUẬN TRONG KHI ĐẠI ĐA SỐ QUẦN CHÚNG GÁNH CHỊU TỔN THẤT. NỀN KINH TẾ MẠNG LƯỚI NGÀY NAY CÀNG LÀM TRẦM TRỌNG THÊM SỰ BẤT ĐỐI XỨNG NÀY.

Như Edward Fishman từ Trung tâm Chính sách Năng lượng Toàn cầu lập luận trong cuốn sách Chokepoints (Các điểm nghẽn) của mình, quyền lực ngày nay chảy qua các hệ thống toàn cầu như các tuyến đường năng lượng, mạng lưới tài chính và chuỗi cung ứng. Nhưng xung đột biến chúng thành những kênh lây lan kinh tế. Kết quả là một sự đảo ngược kỳ quặc: Chiến tranh có vẻ đắt đỏ trên lý thuyết nhưng lại “vừa túi tiền” trên thực tế, bởi vì phần lớn hóa đơn đã được thanh toán bởi những người khác.

Sự định giá sai này dẫn đến những hệ lụy có thể đoán trước. Khi hàng hóa được trợ cấp, chúng ta sẽ tiêu thụ nhiều hơn. Khi giá quá thấp, chúng ta sẽ gặp tình trạng dư cung: quá nhiều ô nhiễm, quá nhiều rủi ro và quá nhiều chiến tranh.

Thách thức về chính sách vì thế trở nên quen thuộc, ngay cả khi bối cảnh chính trị thì không: để ngăn chặn chiến tranh, chi phí của nó phải được “nội hóa” (internalized).

Những kẻ khơi mào xung đột phải gánh chịu một phần lớn hơn (hoặc tốt hơn hết là toàn bộ) chi phí thực sự của nó. Việc đảm bảo kết quả đó đòi hỏi một định chế toàn cầu hiệu quả, có khả năng điều chỉnh chi phí cá nhân và chi phí xã hội của xung đột một cách hiệu quả hơn so với thị trường toàn cầu.

Cho đến khi thế giới có thể xây dựng được một định chế như vậy, những động lực sẽ vẫn tiếp tục bị bóp méo, bởi vì một trong những hoạt động mang tính hủy diệt nhất có thể tưởng tượng được lại có vẻ quá rẻ đối với những kẻ thực hiện nó.

VDT

Đáy lắm rồi

Cravat màu tím

Họp báo này lại là cravat xanh lam

Anh em dâng hương lên ngũ quả chưa?

Tổng thống Mỹ Donald Trump tiếp tục đưa ra cảnh báo cứng rắn nhằm vào Iran trong bối cảnh thời hạn do Washington đặt ra liên quan đến việc mở lại eo biển Hormuz đang đến gần.

Trên Truth Social, ông Donald Trump viết: “Cả một nền văn minh sẽ biến mất trong đêm nay, và sẽ không bao giờ có thể được khôi phục trở lại”. Nhà lãnh đạo Mỹ cho biết ông không mong muốn kịch bản này xảy ra, nhưng cho rằng điều đó “có khả năng sẽ xảy ra”.

Theo Tổng thống Mỹ, những diễn biến sắp tới có thể đánh dấu “một trong những thời khắc quan trọng nhất trong lịch sử lâu dài và phức tạp của thế giới”.

Hiện phía Iran chưa đưa ra phản hồi chính thức đối với các tuyên bố mới nhất từ phía Tổng thống Mỹ.

Truth của ông Trump