Chu Kỳ Kinh Tế, Bàn Tay Vô Hình và Quy Luật Bản Thân Tự Trải Nghiệm

QUY LUẬT CỦA MỌI XU HƯỚNG VÀ CHU KỲ KINH TẾ

Chào mọi người @DuyVinhFC @Cattuong @AnnaNguyen @Mr.NaK

Sau 1 số pic tâm huyết ở:

  1. Dự báo đợt giảm mạnh của thị trường 25/3/2025: https://f247.com/t/25-3-minh-chot-bot-1-so-co-phieu-a-e-cung-nen-ha-bot-margin/816405?page=3

  2. (Kiến thức) Các kỹ thuật rút ruột cổ đông cơ bản: https://f247.com/t/1-so-ky-thuat-can-ban-rut-ruot-co-dong-viet-carlo-2/808929

Hôm nay em viết 1 bài, mong mn đón đọc ủng hộ

Các biến động kinh tế vốn ko tự nhiên đơn độc xảy ra, nó thường là kết hợp của thiên thời và con người, đây là nền tảng quan trọng trong tư duy đầu tư và dự đoán vĩ mô, nay tôi giới thiệu và làm rõ qua 1 nghiên cứu nhỏ của bản thân đến mn.

Những sự hội tụ “tình cờ” của những yếu tố chủ quan (con người có thể kiểm soát, làm chủ) và khách quan (con người không thể kiểm soát như chiến tranh, thời tiết…) cùng nhau tạo nên 1 xu hướng chung – “bàn tay vô hình” và quy luật trên thị trường chứng khoán theo quan điểm của tôi.

1 số thuyết tương đồng với tư duy này: “Sự kết nối vô hình” Synchronicity” của nhà tâm thần học Carl Jung, thuyết hỗn loạn (chaos theory), thuyết Đồng Nhất Causality (thuyết cho rằng có 1 mối quan hệ ẩn nào đó giữa các sự kiện vốn không liên quan gì đến nhau, 1 quy luật vận hành ẩn không dễ nhìn thấy ngay), thuyết Tâm Linh và Khoa Học Tâm Lý (Transpersonal Psychology), thuyết các Hệ thống Tự tổ chức (Self-organizing Systems), thuyết Tương tác giữa môi trường và con người (Ecopsychology) và thuyết Karma của Phật giáo.

Những sự kiện lớn nhất thế giới đều là hợp nhất của con người và thiên thời:

1.Giá dầu và lạm phát tăng vọt 2021 – 2022

-Chủ quan:

    • Chính sách nới lỏng tiền tệ mạnh mẽ của FED và các ngân hàng trung ương thế giới nhằm kích thích kinh tế hậu Covid19 đẩy giá hàng hóa tăng mạnh
    • Opec cắt giảm sản lượng để khôi phục giá dầu hậu covid19

-Khách quan:

    • Kẹt kênh đào Suez: 23/3/2021, 1 trận bão cát sức gió 74km/giờ quét qua khiến tàu Ever Given dài 400m kẹt ngang bịt hoàn toàn kênh đào Suez trong 1 tuần. Sau vụ việc giá dầu tiếp nối đà tăng từ 61usd lên 75usd/thùng.
    • Bão tuyết mùa đông tháng 2/2021 chưa từng có trong lịch sử Texas, khiến trung tâm năng lượng lớn cua Mỹ mất điện diện rộng, giá dầu thế giới từ 56 lên 68 usd/thùng.
    • Israel – palestine: tháng 5/2021, xung đột vũ trang giữa Israel và hamas ở dải Gaza. Xung đột gần nhất trước đó ở Gaza chỉ có vào năm 2014.
    • Afghanistan: tháng 8/2021, chính phủ Kabul ở Afghanistan sụp đổ khi Mỹ rút quân, Taliban trở lại.
    • Chiến tranh Nga – Ukraine: 24/2/2022, Nga xâm lược toàn diện Ukraine, giá dầu tăng sốc từ 93 usd lên 128 usd/thùng, hàng loạt cây xăng ở Việt Nam hết hàng hoặc đóng cửa, tình trạng thiếu năng lượng toàn diện bùng nổ.

2. Đại dịch Covid19 2019 – 2022 và bùng nổ cách mạng công nghệ

-Chủ quan:

    • Các đầu tàu kinh tế thế giới nhu Mỹ, China, Nhật, Anh, Đức đều đã bão hòa tăng trưởng GDP theo cách truyền thống xuống mức thấp nhất 40 năm (1980 – 2019), dân số già, nhu cầu bức thiết phải cải tiến nền công nghệ hòng reset lại chu kỳ tăng trưởng mới.
    • Chính sách tiền tệ thắt chặt đẩy lãi suất cho vay Mỹ từ 4.1% (2017) lên 5.3% (2019), đường cong lợi suất đảo ngược vào tháng 7/2019, báo hiệu suy thoái kinh tế có thể xảy ra trong 12 – 24 tháng tiếp theo

-Khách quan:

    • Virus Covid19 có những ca nhiễm đầu tiên ở Mỹ vào tháng 1/2020, chính sách tránh tiếp xúc gần đẩy kinh tế toàn cầu giảm mạnh nhưng là cú huých mạnh thúc đẩy xu hướng thanh toán không tiền mặt, tự động hóa sản xuất, thương mại điện tử, làm việc từ xa => đẩy mạnh A.I, zoom, QR code, ví điện tử, Robot, IoT, Block chain

3. Thương chiến Mỹ Trung 2018 và phân cực thế giới

- Chủ quan:

    • Thâm hụt thương mại của Mỹ với Trung Quốc và thâm hụt ngân sách của nước Mỹ, nợ công và tình trạng đánh cắp sở hữu trí tuệ đều đã đạt mức đỉnh lịch sử, thúc đẩy chính phủ Mỹ có động lực xét lại 1 loạt vấn đề quan hệ thế giới nổi bật là với Trung Quốc
    • Bong bóng tài sản toàn thế giới: Chỉ số Dow 30 của Mỹ tăng 67% 2016 – 2018, VNINDEX tăng từ 587 lên 1,210 điểm cùng giai đoạn, thường báo hiệu chính sách tiền tệ thắt chặt hòng kiềm chế lạm phát sắp diễn ra.

- Khách quan:

    • Căng thẳng ở biển đông giai đoạn 2017 - 2018: các hành động quân sự hóa của Trung Quốc diễn ra trong giai đoạn này thúc đẩy sự đối đầu giữa China với hàng loạt quốc gia khu vực như VN, Phillipines, Malaysia, Brunei, thôi thúc Mỹ mau chóng tăng cường hiện diện quân sự ở khu vực để hỗ trợ các đồng minh.
    • Sự xuất hiện của Trump: 20/1/2017, Donald Trump nhậm chức tổng thống Mỹ, 1 nhân vật đậm chất (1) chủ nghĩa dân túy (America First), (2) Chống lại toàn cầu hóa và (3) chính sách đối ngoại đơn phương mạnh mẽ (không ngại áp thuế và rút khỏi các thỏa thuận quốc tế nếu không có lợi), vô tình là ngòi nổ chủ đạo của những xu hướng chủ quan/khách quan nói trên.
    • Thiên thời, địa lợi và nhân hòa đã đủ, chiến tranh thương mại với TQ và xu hướng đối đầu với TQ về dài hạn bắt đầu.

4. Bong bóng giá dầu 2001 - 2008: Dầu 18 usd => 150 usd/thùng (2002 – 2008)

- Chủ quan:

    • FED liên tục cắt giảm lãi suất kể từ 2001 xuống 1% (2003), thấp nhất 40 năm bằng nới lỏng định lượng hoặc hạ lãi suất trực tiếp, hòng kích thích kinh tế hậu vỡ bong bóng công nghệ năm 2000 và suy thoái toàn cầu. Cung tiền tăng vọt thúc đẩy bong bóng tài sản trên toàn thế giới, trong đó có chứng khoán và dầu mỏ.

- Khách quan:

    • 11/9/2001, khủng bố cướp 2 máy bay thương mại Mỹ và lao thẳng vào tòa tháp thương mại thế giới. Mỹ tuyên chiến với Al-Qaeda và đẩy mạnh hiện diện quân sự tại Afghanistan, đẩy khu vực vào xung đột kéo dài.
    • Xâm lược Iraq: năm 2003, Mỹ đưa quân vào Iraq với nghi ngờ Iraq sở hữu vũ khí hạt nhân và tài trợ cho Al-Qaeda. Sau chiến tranh, bất ổn khu vực gia tăng lên đỉnh và sản lượng dầu của Iraq giảm mạnh do bất ổn chính trị, các đợt tấn công vào các cơ sở sản xuất.
    • Khủng hoảng hạt nhân Iran 2006 – 2008: Trong giai đoạn này, Iran theo đuổi phát triển vũ khí hạt nhân, đặt phương Tây trong tình trạng thường xuyên đe dọa tấn công quân sự. Tháng 7/2008: Quan chức Iran tuyên bố nếu bị tấn công sẽ đóng eo biển Hormuz – nơi vận chuyển 20% sản lượng dầu thế giới.

5. Lạm phát Mỹ lên 14% 1970 – 1980, khủng hoảng giá dầu:

- Chủ quan:

    • Chiến tranh Việt nam kéo dài tới 1975 cùng chương trình tăng phúc lợi xã hội của tổng thống Lyndon Johnson tăng chi tiêu chính phủ, 1 phần nguyên nhân lạm phát
    • Chiến lược “chiến tranh giữa các vì sao” của Ronald Reagan nhằm gia tăng chi tiêu chính phủ cho quốc phòng hòng chạy đua vũ trang với Liên Xô đẩy thâm hụt ngân sách từ 2% GDP lên 5% GDP (1970 – 1985), đẩy lạm phát Mỹ tăng vọt.

- Khách quan:

    • Chiến tranh Israel – Ai Cập 1973: Opec trả đũa Israel và đồng minh phương Tây bằng lệnh cấm xuất khẩu dầu mỏ sang Mỹ và phương Tây. Giá dầu tăng vọt từ 3 usd lên 15 usd/thùng (1973 – 1977), đẩy lạm phát thế giới tăng vọt.
    • Cách mạng Iran 1979: Lực lượng cách mạng lật đổ chế độ Shah Mohammad Reza Pahlavi, biểu tình và xung đột nội bộ làm các cơ sở dầu mỏ của quốc gia chiếm 5% sản lượng dầu thế giới bị đóng cửa.
    • Chiến tranh toàn diện Iran – Iraq 1980 – 1988
    • Nhu cầu dầu mỏ từ các nền kinh tế phát triển Mỹ, japan và Tây Âu tăng đột ngột giai đoạn 1970 – 1980 (Anh, Mỹ và Nhật liên tục tăng trưởng GDP 9% - 10% hàng năm giai đoạn này)

6. Khủng hoảng dầu mỏ 2009 – 2011: Giá dầu từ 35 usd => 115 usd/thùng

- Chủ quan: Chính quyền Obama sau khi nhậm chức (2009) thực hiện nới lỏng định lượng (QE) quy mô lớn hòng vực dậy kinh tế hậu khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008, cung tiền M2 tăng trưởng 4% - 10%, đẩy giá cả tài sản và hàng hóa như chứng khoán và dầu mỏ tạo đáy tăng vọt. ở VN, VNINDEX tạo đáy ở 250 điểm và đạt đỉnh 610 điểm (10/2009).

-Khách quan:

    • Chiến tranh Libya: lãnh đạo Muammar Gaddafi bị lực lượng nổi dậy do NATO đứng đầu lật đổ. Trong thời gian chiến tranh, sản lượng dầu của Libya giảm từ 1.6 triệu thùng => 0.4 triệu thùng/ngày.
    • Nội chiến Syria: nổ ra năm 2011 với sự tham gia phức tạp của nhiều lực lượng như Mỹ, Nga, Iran…

Lời cuối: tôi theo quan điểm này từ lâu, chủ yếu vì qua 15 năm nay trong TTCK, tôi thấy các quy luật lõi bên dưới luôn vận động theo kiểu như vậy. Cho rằng không có bất kỳ biến động và cuộc chiến nào lại tự nhiên sinh ra, khi hệ thống có nhu cầu bức thiết nào đó, khi định giá tài sản đã ảo hoặc quá rẻ, tự nhiên nội tại nó sẽ sinh ra 1 nhân vật, 1 sự kiện, 1 xung đột …nào đó, mà nếu nhìn lẻ tẻ cảm giác mọi thứ chỉ là ngẫu nhiên. Mọi thứ là 1 chu kỳ, khi nó đến, nó phải đến. Rất nhiều anh em lâu năm trong nghề hiểu tin tức chỉ là cớ để giải thích.

Hầu nhu toi rất ít xem tin tức, điều đó ko ảnh hưởng nhiều đến việc dự đoán. Không cái này sẽ là cái khác. Trong thực tế có 2 kiểu tư duy, 1 là kiểu này (truy từ gốc lên), và 2 là kiểu phổ biến (truy từ ngọn xuống - đi tìm tin tức đơn lẻ sau khi thị trường đã tăng/đã giảm trong 1 nỗ lực giải thích "à, hóa ra nó là vì cái này). Kiểu 2 phổ biến, ai cũng vậy, nhưng hiệu quả gần như ko có.

Hy vọng qua đây mn có thêm chút gì đó suy nghĩ cho riêng mình về tư duy gốc, cảm ơn. Sẽ có nhiều nghiên cứu hơn và đăng lên đây.
Nhà em : https://www.facebook.com/groups/chungkhoanvietcarlo

6 Likes

Đúng đấy ! :+1:t6: :dolphin: :shamrock:

2 Likes

Thank em, bài viết tuyệt đấy.

cảm ơn ad, bài viết hay phết

bài viết hay quá

thế tính ra là cái gì cũng sẽ có quy luật của nó nhỉ

Đr bác quan trọng mình có tìm ra được quy luật không thôi

oke nhá bác

Nghiên cứu nhỏ - ĐẶC ĐIỂM GDP VÀ ĐỘ NHẠY VỚI TỶ GIÁ, VŨ KHÍ THUẾ QUAN
Trích 1 phần các nghiên cứu nhỏ hàng ngày do tôi tự thực hiện, hôm nay là chủ đề đặc điểm cơ cấu gdp, độ mở thương mại trên tập hợp vài nước bao gồm VN.

GDP – tổng sản phẩm hay tổng thu nhập quốc nội là 1 trong các thước đo độ giàu có chính khi so sánh thu nhập, còn độ mở thương mại quốc tế liên hệ trực tiếp đến độ nhạy với tỷ giá hối đoái, xuất nhập khẩu và FDI của nền kinh tế/thị trường chứng khoán nước đó.
Mẫu số: Việt Nam so với 3 nền kinh tế chính thường nhắc đến trong các phân tích, vì tầm ảnh hưởng của chúng: Japan, China và USA.

  1.    Cơ cấu đóng góp vào GDP mỗi quốc gia của (1) tiêu dùng, (2) đầu tư tài sản của doanh nghiệp và (3) Xuất khẩu siêu
    

1. cơ cấu gdp

Phát biểu:

  •        Việt Nam nổi bật với 8% GDP đóng góp bởi xuất siêu (đường đỏ, đơn vị tính bên phải)
    
  •        USA có tiêu dùng hộ gia đình là động lực chính tạo GDP (81%, cột xanh dương, đơn vị tính bên trái).
    
  •        China có mức đầu tư rất lớn của doanh nghiệp trong nước, xuất phát từ nền tảng chính sách kích thích tư nhân rất mạnh của chính phủ (41%, cột xanh lá, đơn vị tính bên trái), bù lại nhu cầu tiêu dùng nội địa chỉ ở mức trung bình toàn cầu.
    
  1.    So sánh riêng mức độ đóng góp tiêu dùng:
    

2. tiêu dùng

  •        Hoa Kỳ và Nhật Bản có GDP đến phần lớn đến từ thị trường tiêu dùng trong nước mạnh.
    
  •        China và Việt Nam có mức đóng góp của tiêu dùng gia đình vào GDP chỉ ở mức trung bình toàn cầu hoặc thấp, từ nhiều yếu tố văn hóa, thói quen, an sinh xã hội khiến cho tỷ lệ tiết kiệm trên thu nhập rất cao (Việt Nam: 38% và Trung Quốc: hơn 44%, để so sánh: Người Mỹ chỉ tiết kiệm trung bình 18% thu nhập, hãy xem cụ thể dưới đây cho mối quan hệ tỷ lệ tiết kiệm và đóng góp tiêu dùng trong GDP).
    
  1.    Để làm rõ hơn quan hệ nghịch đảo giữa tỷ lệ tiết kiệm và độ đóng góp của tiêu dùng/GDP nói trên:
    

3. saving và c

  •        Độ nghịch gần tuyệt đối nói lên các quốc gia có tỷ lệ tiết kiệm trên thu nhập càng cao thì mức độ đóng góp của tiêu dùng vào GDP nước đó càng thấp. Điều này ràng buộc bởi hàm tiết kiệm cơ bản: tổng tiết kiệm (S) = tổng thu nhập (Y) – tổng tiêu dùng (C).
    
  •        Các quốc gia có đóng góp của tiêu dùng vào GDP thấp như China, Việt Nam, thường bù lại GDP bằng các thành phần khác như Đầu tư tư nhân (China) hay xuất siêu (Việt Nam – cụ thể xem phần 4 dưới đây).
    
  1.    So sánh mức độ đóng góp của xuất khẩu siêu:
    

4. xuất siêu

  •        Việt Nam có cấu phần đóng góp của xuất khẩu siêu (xuất khẩu trừ nhập khẩu) lớn hơn nhiều mức trung bình toàn cầu (8% so với từ -2% (nhập siêu) đến 2% (xuất siêu) của thế giới), 1 hiện tượng có liên quan đến cơ cấu khối FDI lớn trong kinh tế và tỷ lệ tiết kiệm cao của người dân Việt Nam (xem phần tỷ lệ tiết kiệm bên trên), xuất siêu bù đắp cho lượng tiêu dùng chỉ ở trung bình.
    
  •        Japan 6 năm gần đây đều nhập siêu, có liên quan đến nhu cầu nhập khẩu năng lượng lớn, và chủ yếu là từ sự chuyển dịch nhiều doanh nghiệp ra nước ngoài, dẫn đến nhập khẩu bù đắp 1 số sản phẩm mà trước đây có thể sản xuất nội địa.
    
  •        USA đã nhập siêu từ nhiều thập kỷ đến nay do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu do cơ cấu kinh tế Mỹ dịch dần về dịch vụ trong khi tiêu dùng rất cao (như trên).
    
  1.    So sánh độ mở với thương mại quốc tế (trade openness):
    

5. độ mở thương mại

  •        Độ mở thương mại thường lấy tổng kim ngạch xuất nhập chia cho GDP
    
  •        Độ mở thương mại tỷ lệ thuận với độ nhạy của nền kinh tế/thị trường chứng khoán với lãi suất/tỷ giá hối đoái (Có nghĩa là khi lãi suất hay tỷ giá nhích lên 1 đơn vị thì độ tác động đánh lên GDP và điểm số chứng khoán nước đó là mạnh hơn hay nhẹ hơn tương đối).
    
  •        Việt Nam nổi bật với độ mở thương mại lớn hơn hẳn trung bình toàn cầu (166% GDP thực), trong tổng kim ngạch xuất khẩu, khối FDI đóng góp 74%, thể hiện độ nhạy rất cao của thị trường chứng khoán và các hoạt động kinh tế với các biến số như tỷ giá hối đoái (thường lấy USD/VND), lãi suất thế giới (vì tác động đến tỷ giá), Vốn đầu tư nước ngoài, hàng rào thuế quan.

Lên lại vix chưa bác

Chào các bạn, tiếp tục là 1 nghiên cứu nhỏ hàng ngày của tôi, đi sâu vào Khủng hoảng tài chính 2008 dưới góc nhìn 1 mô hình cơ bản trong phân tích vĩ mô, bài hơi hàn lâm nhưng có kiến giải chi tiết, mn đón đọc.

A. Khái niệm nền:

  • Mô hình Cung – Cầu dạng đồ thị là công cụ căn bản rất hiệu quả để dự báo tác động của các cú sốc kinh tế đến GDP, lạm phát và thất nghiệp. Trong đó, đường AD (Aggregate Demand) là tổng cầu hay tổng nhu cầu mua sắm, chi tiêu của quốc gia và đường AS (Aggregate Supply) là tổng cung hay tổng sản lượng có thể sản xuất ra để đáp ứng tổng cầu.

  • Về căn bản:

  • nếu cầu không đổi, cung giảm làm lạm phát tăng và GDP giảm, bạn có thể liên hệ đến cú sốc cung như dịch covid19 làm nhà máy đóng cửa, thiên tai hạn hán làm mất mùa nông sản, hay giá dầu tăng vọt làm doanh nghiệp sản xuất ít hơn do chi phí đầu vào tăng mạnh.

  • Nếu cung không đổi, cầu giảm làm lạm phát giảm và GDP giảm, bạn có thể liên hệ đến trường hợp người dân ngại mua sắm tiêu dùng, doanh nghiệp ngại đầu tư hơn trước những cú sốc làm giảm kỳ vọng tư nhân như thị trường chứng khoán giảm, hệ thống ngân hàng thất bại, thị trường trái phiếu siết chặt, chính phủ tăng thuế hay ngưng đầu tư công.

  • Tóm lại, cầu nhiều hơn cung => lạm phát, cầu ít hơn cung => giảm phát

  • Những mối quan hệ trên đều vẽ được đơn giản qua đồ thị cung cầu (AD – AS) trong mối tương quan giữa 2 biến nội sinh là GDP (đại diện cho sản lượng cân bằng) và lạm phát (đại diện cho mức giá sẵn sàng mua).

  • Ban đầu, điểm giao cắt của đường cung và đường cầu là ở mức lạm phát 5% và GDP 430 tỷ usd.

  • Giả định có 1 cú sốc cung, ví dụ FDI rút khỏi VN làm suy giảm năng lực sản xuất, hoặc giá dầu tăng vọt làm bào mòn sản lượng, đường AS dịch sang trái, giao cắt AD ở điểm cân bằng mới, nơi mà lạm phát lên 6%, và GDP giảm còn 400 tỷ usd. Đây là cách sơ đồ hóa rất chính xác tác động thực của 1 cú sốc kiểu đó nếu tổng cầu mua sắm của dân giữ nguyên ngoài đời thực.

B. Khủng hoảng tài chính Mỹ 2007 – 2009 có thể biểu diễn tổng quát qua mô hình AD - AS sau:

Ảnh 2 có thể hơi rối mắt với các bạn mới, nhìn vào ảnh và tôi sẽ giải thích từ từ nhé:

Cuộc khủng hoảng này gồm 2 giai đoạn:

Giai đoạn 1 có 2 cú sốc xảy ra vào tháng 7 năm 2007, làm AS1 dịch sang AS2, AD1 dịch sang AD2:

  • Cú sốc cung 1 : tháng 7/2007, nhu cầu dầu tăng vọt từ các nước đang phát triển nhanh như China, India và sản lượng dầu chậm hẳn lại ở Mexico, Nga và Nigeria đẩy giá dầu từ 60 usd lên 100 usd. Đây là 1 cú sốc cung thường tăng lạm phát và giảm sản lượng GDP.
  • => Đường AS1 dịch sang trái, hướng lên trên ở vị trí AS2 , thể hiện sản lượng (GDP) giảm và lạm phát tăng mạnh.
  • Cú sốc cầu 1 : Cùng tháng 7 / 2007, thị trường tín dụng toàn cầu đóng băng đột ngột từ việc nhiều khoản cho vay thế chấp nhà cho người có thu nhập thấp (dưới chuẩn) ở Mỹ mất khả năng trả nợ, ngân hàng BNP Baritas (pháp) đóng băng 3 quỹ đầu tư có liên quan đến tài sản thế chấp là bất động sản Mỹ, khiến kỳ vọng và tổng cầu tư nhân giảm đột ngột.
  • => Đường AD1 dịch sang trái ở AD2 , thể hiện cầu giảm và lạm phát giảm nhẹ.

=> Trung hòa cả 2 cú sốc giai đoạn 1: Giao điểm giữa AS1 – AD1 (đánh số 1) dịch sang trái ở điểm số 2, báo hiệu sản lượng GDP giảm với mức lạm phát tăng nhẹ. Thực tế ngoài đời, GDP Mỹ giảm từ 17,000 tỷ usd xuống 16,500 tỷ usd, với mức lạm phát tăng từ 2.8% lên 5%, từ sau 2 cú sốc trên (7/2007) đến 6/2008.

Giai đoạn 2 có 2 cú sốc xảy ra vào tháng 6 đến tháng 8 năm 2008, làm AS2 dịch tiếp sang AS3, và AD2 dịch tiếp sang AD3:

  • Cú sốc cung 2 (cú sốc cung tích cực): tháng 6-8/2008, giá dầu hạ nhiệt từ đỉnh 146 usd xuống 110 usd, hệ quả của tổng cầu suy giảm trước đó.
  • => Đường AS2 dịch trở lại xuống dưới sang phải ở AS3, thể hiện sản lượng (GDP) tăng và lạm phát giảm
  • Cú sốc cầu 2: tháng 9/2008, ngân hàng đầu tư Lehman Brothers phá sản, cuộc khủng hoảng ngân hàng Mỹ bước vào giai đoạn 2 tiếp tục làm kỳ vọng tư nhân xấu hơn.
  • => Đường AD2 dịch tiếp sang trái ở AD3, thể hiện cầu giảm tiếp và lạm phát giảm tiếp.

=> Trung hòa sau 2 cú sốc giai đoạn 2: Giao điểm 2 dịch tiếp sang trái xuống dưới ở điểm số 3, thể hiện GDP giảm tiếp và lạm phát giảm sâu. Quả thực như vậy, thực tế từ tháng 6/2008 sang đầu năm 2009, GDP Mỹ giảm tiếp từ 16,500 tỷ usd xuống 16,200 tỷ usd, với lạm phát giảm mạnh từ 5% xuống còn 1%.

Cảm ơn các bạn.

2 Likes