Góc Nhìn NguyenNghia: Việt Nam Sẽ Ra Sao Khi Thời Kỳ Dân Số Vàng Kết Thúc?

Góc Nhìn NguyenNghia: Việt Nam Sẽ Ra Sao Khi Thời Kỳ Dân Số Vàng Kết Thúc?

Tác giả: nguyennghia

Trong nhiều năm qua, khi nói về tiềm năng tăng trưởng dài hạn của Việt Nam, người ta thường nhắc đến vị trí địa lý, dòng vốn FDI, tốc độ đô thị hóa, công nghiệp hóa hay sự dịch chuyển chuỗi cung ứng. Nhưng phía sau những yếu tố đó còn có một lợi thế âm thầm và cực kỳ quan trọng: Việt Nam có rất nhiều người trong độ tuổi lao động so với số người phụ thuộc.

Đó chính là thời kỳ dân số vàng.

Việt Nam bước vào thời kỳ dân số vàng từ khoảng năm 2007. Theo UNFPA, cửa sổ này được dự báo có thể kết thúc vào khoảng năm 2039. Trong khi đó, mức sinh của Việt Nam đã xuống dưới mức sinh thay thế, với tổng tỷ suất sinh năm 2025 khoảng 1,93 con/phụ nữ.

Điều đó có nghĩa lợi thế nhân khẩu học mà Việt Nam đang có không tồn tại vĩnh viễn.

Và câu hỏi quan trọng không phải là Việt Nam có già hóa hay không.

Điều đó gần như chắc chắn sẽ xảy ra.

Câu hỏi thực sự là:

Việt Nam sẽ trở thành một quốc gia như thế nào sau khi thời kỳ dân số vàng kết thúc?

1. Dân số vàng đã giúp Việt Nam điều gì?

Muốn hiểu cái giá của việc mất dân số vàng, trước tiên phải hiểu nó đã mang lại cho Việt Nam thứ gì.

Hãy tưởng tượng hai quốc gia đều có 100 người.

Quốc gia thứ nhất có 65 người trong độ tuổi lao động và 35 người phụ thuộc.

Quốc gia thứ hai chỉ có 50 người lao động nhưng phải hỗ trợ 50 người phụ thuộc.

Rõ ràng quốc gia thứ nhất có lợi thế lớn hơn.

Nhiều người làm việc hơn đồng nghĩa với:

sản xuất nhiều hơn;

thu nhập nhiều hơn;

tiêu dùng nhiều hơn;

nguồn thu thuế lớn hơn;

và có nhiều khả năng tiết kiệm, đầu tư hơn.

Ở cấp độ gia đình cũng tương tự.

Một gia đình có bốn người đi làm nuôi một người già sẽ có khả năng tích lũy tài sản khác hoàn toàn một gia đình có hai người đi làm nhưng phải hỗ trợ hai người cao tuổi.

Trong vài thập kỷ vừa qua, Việt Nam được hưởng chính luồng gió thuận đó.

Lực lượng lao động lớn và tương đối trẻ không chỉ giúp nền kinh tế có nguồn nhân lực dồi dào mà còn góp phần tạo nên một lợi thế đặc biệt quan trọng:

lao động tương đối rẻ.

Điều này rất phù hợp với giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa.

Doanh nghiệp nước ngoài có thể đưa nhà máy vào Việt Nam, tuyển một lượng lớn lao động, sản xuất hàng hóa rồi xuất khẩu.

Việt Nam nhờ đó tham gia ngày càng sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Nhưng mô hình này có một điều kiện:

phải luôn có đủ lao động.

Và chính điều kiện ấy đang dần thay đổi.

2. Những đứa trẻ không được sinh ra hôm nay chính là những lao động không xuất hiện 20 năm sau

Nhân khẩu học khác với lãi suất hay tỷ giá ở một điểm rất quan trọng.

Nó thay đổi rất chậm, nhưng một khi đã thay đổi thì cực kỳ khó đảo ngược.

Nếu một quốc gia thiếu ngoại tệ, chính phủ có thể điều chỉnh chính sách trong vài tháng.

Nếu nền kinh tế suy thoái, ngân hàng trung ương có thể giảm lãi suất.

Nhưng nếu năm nay thiếu một triệu trẻ em được sinh ra, hai mươi năm sau không có chính sách nào có thể lập tức tạo ra một triệu lao động 20 tuổi.

Đây chính là độ trễ đáng sợ của nhân khẩu học.

Mức sinh thấp hôm nay chưa chắc tạo ra khủng hoảng lao động ngay hôm nay.

Nhưng nó đã định hình một phần lực lượng lao động của hai thập kỷ sau.

Khi những thế hệ đông dân hiện nay dần bước qua tuổi lao động trong khi những thế hệ phía sau nhỏ hơn tiến vào thị trường việc làm, tỷ lệ người lao động trên người phụ thuộc sẽ giảm.

World Bank từng dự báo tỷ lệ phụ thuộc người cao tuổi của Việt Nam có thể tăng từ khoảng 0,11 năm 2019 lên khoảng 0,22 vào năm 2039.

Nói đơn giản:

số người tạo ra thu nhập tương đối giảm trong khi số người cần được hỗ trợ tương đối tăng.

Đây sẽ là thay đổi căn bản đầu tiên của Việt Nam sau thời kỳ dân số vàng.

3. Lợi thế lao động rẻ sẽ dần biến mất

Một trong những lý do Việt Nam hấp dẫn các nhà sản xuất quốc tế là lực lượng lao động lớn với chi phí cạnh tranh.

Nhưng khi nguồn cung lao động trẻ tăng chậm lại, quy luật cung cầu sẽ bắt đầu hoạt động.

Doanh nghiệp vẫn cần công nhân.

Nhưng số người sẵn sàng làm việc không tăng nhanh như trước.

Doanh nghiệp phải cạnh tranh lao động bằng tiền lương.

Khi đó:

thiếu lao động → tiền lương tăng → chi phí sản xuất tăng.

Tiền lương tăng bản thân nó không phải chuyện xấu.

Một quốc gia phát triển thì thu nhập của người lao động tất nhiên phải tăng.

Vấn đề nằm ở chỗ:

tiền lương tăng nhanh hơn hay chậm hơn năng suất?

Giả sử một công nhân trước đây nhận 10 triệu đồng và tạo ra 20 triệu đồng giá trị mỗi tháng.

Sau này lương tăng lên 15 triệu nhưng người đó vẫn chỉ tạo ra 20 triệu giá trị.

Sức cạnh tranh của doanh nghiệp giảm.

Nhưng nếu lương tăng lên 15 triệu trong khi nhờ máy móc, kỹ năng và công nghệ, người đó tạo ra 40 triệu giá trị thì nền kinh tế vẫn khỏe.

Do đó khi dân số vàng kết thúc, cuộc chơi của Việt Nam sẽ thay đổi.

Việt Nam không thể mãi cạnh tranh bằng:

“Tôi có rất nhiều lao động với giá rẻ.”

Mà phải chuyển sang:

“Mỗi lao động của tôi tạo ra giá trị ngày càng cao.”

4. Đây là lý do Việt Nam có nguy cơ “già trước khi giàu”

Già hóa dân số không phải vấn đề riêng của Việt Nam.

Nhật Bản già.

Hàn Quốc già.

Đức, Ý và nhiều nền kinh tế phát triển cũng già.

Nhưng có một sự khác biệt cực kỳ quan trọng.

Phần lớn những quốc gia này đã tích lũy được lượng tài sản rất lớn và đạt thu nhập cao trước khi bước sâu vào quá trình già hóa.

Việt Nam lại đang già hóa khi thu nhập bình quân vẫn thấp hơn rất nhiều so với các nước phát triển.

Theo UNFPA, đến khoảng năm 2050, người từ 60 tuổi trở lên có thể chiếm hơn một phần tư dân số Việt Nam.

Vì vậy cuộc đua lớn nhất của Việt Nam trong khoảng hai thập kỷ tới thực chất là cuộc đua giữa hai đường:

tốc độ già hóa

tốc độ làm giàu.

Nếu thu nhập, tài sản và năng suất tăng nhanh hơn quá trình già hóa, Việt Nam có thể bước vào xã hội già với một nền tảng đủ mạnh.

Nhưng nếu dân số già nhanh hơn khả năng tích lũy của nền kinh tế, Việt Nam sẽ gặp một bài toán khó hơn rất nhiều:

người làm việc ít đi nhưng người cần hỗ trợ nhiều lên, trong khi xã hội chưa tích lũy đủ của cải.

Đây mới là ý nghĩa thực sự của cụm từ:

“Già trước khi giàu.”

5. Điểm nghẽn tiếp theo sẽ xuất hiện ở ngân sách và bảo hiểm xã hội

Khi cơ cấu dân số trẻ, phần lớn nguồn lực xã hội hướng tới:

giáo dục;

việc làm;

nhà ở;

hạ tầng;

phát triển sản xuất.

Nhưng khi dân số già đi, nhu cầu chi tiêu thay đổi.

Một xã hội có nhiều người 65–80 tuổi sẽ cần nhiều hơn cho:

y tế;

thuốc men;

lương hưu;

chăm sóc dài hạn;

trợ cấp xã hội;

phục hồi chức năng;

dịch vụ dành cho người cao tuổi.

World Bank từng ước tính quá trình già hóa có thể khiến Việt Nam phải tăng thêm một lượng chi tiêu tương đương khoảng 1,4–4,6% GDP, tùy vào cách hệ thống an sinh được mở rộng và tổ chức.

Vấn đề nằm ở chỗ nguồn thu và nhu cầu chi lại di chuyển theo hai hướng trái ngược.

Người trong độ tuổi lao động tăng chậm → số người đóng thuế và đóng bảo hiểm tăng chậm.

Trong khi:

người cao tuổi tăng nhanh → người nhận lương hưu và sử dụng dịch vụ y tế tăng.

Hãy hình dung một hệ thống trước đây có 10 người làm việc hỗ trợ 2 người nghỉ hưu.

Sau này vẫn 10 người nhưng phải hỗ trợ 4 người.

Nếu quyền lợi của người nghỉ hưu không giảm thì chỉ còn vài cách giải quyết:

người đang làm việc đóng nhiều hơn;

nhà nước bù ngân sách nhiều hơn;

người dân nghỉ hưu muộn hơn;

hoặc năng suất và thu nhập của mỗi người lao động phải tăng đủ nhanh.

Không tồn tại một nguồn tiền thần kỳ nào khác.

Đó là lý do cải cách tuổi nghỉ hưu, bảo hiểm xã hội và năng suất lao động thực chất đều liên quan tới cùng một bài toán nhân khẩu học.

6. Bất động sản Việt Nam sau dân số vàng sẽ thay đổi hoàn toàn về cách định giá

Đây là phần tôi cho rằng giới đầu tư cần đặc biệt chú ý.

Một tư duy rất phổ biến hiện nay là:

đất có hạn + dân số tăng → bất động sản dài hạn luôn tăng.

Nhưng khi dân số già hóa, phép tính này không còn đủ.

Thứ quyết định nhu cầu nhà ở không chỉ là tổng dân số.

Quan trọng hơn là:

bao nhiêu người trẻ đang lập gia đình;

bao nhiêu hộ gia đình mới được hình thành;

thu nhập của họ bao nhiêu;

họ đang di cư về đâu;

việc làm tập trung ở đâu.

Một người 70 tuổi vẫn nằm trong tổng dân số nhưng thông thường không tạo ra một hộ gia đình mới và mua căn nhà đầu tiên giống một người 30 tuổi.

Vì vậy khi số người trẻ giảm, tốc độ hình thành hộ gia đình mới cũng có thể giảm theo.

Nhưng điều đó không có nghĩa bất động sản Việt Nam sẽ đồng loạt mất giá.

Ngược lại.

Sự phân hóa có thể còn mạnh hơn hiện nay.

Nếu Hà Nội, TP.HCM và những trung tâm công nghiệp lớn tiếp tục hút lao động trẻ từ các tỉnh, nhu cầu nhà ở tại những khu vực này vẫn có thể tăng ngay cả khi dân số cả nước già đi.

Trong khi đó, những địa phương liên tục mất người trẻ có thể gặp tình trạng ngược lại.

Dân số già.

Người trẻ chuyển đi.

Số hộ mới giảm.

Nhà đất vẫn còn nhưng người mua thực ngày càng ít.

Khi đó Việt Nam có thể xuất hiện hai thị trường bất động sản hoàn toàn khác nhau:

những đô thị hút dân tiếp tục thiếu nhà

những khu vực mất dân bắt đầu dư thừa tài sản.

Vì vậy trong thời đại hậu dân số vàng, câu hỏi quan trọng nhất khi mua bất động sản sẽ không còn là:

“Dân số Việt Nam còn đông không?”

Mà phải là:

“Người trẻ, việc làm và thu nhập đang chảy về đâu?”

7. Một xã hội già cũng sẽ thay đổi toàn bộ cơ cấu tiêu dùng

Một xã hội có tuổi trung vị 30 sẽ tiêu tiền khác một xã hội có tuổi trung vị 50.

Người trẻ thường dành nhiều tiền cho:

nhà ở;

xe cộ;

điện thoại;

thời trang;

giải trí;

giáo dục con cái.

Khi dân số già hơn, tỷ trọng chi tiêu sẽ dần chuyển sang:

y tế;

dược phẩm;

bảo hiểm;

chăm sóc sức khỏe;

dưỡng lão;

phục hồi chức năng;

du lịch nghỉ dưỡng;

dịch vụ chăm sóc tại nhà.

Vì vậy già hóa dân số không đơn giản có nghĩa:

“người già nhiều → tiêu dùng giảm → doanh nghiệp đều xấu.”

Điều đúng hơn là:

dòng tiền tiêu dùng đổi hướng.

Một số ngành mất đi luồng gió nhân khẩu học.

Nhưng một số ngành khác lại bước vào một thị trường tăng trưởng kéo dài hàng chục năm.

Đây chính là nền kinh tế bạc.

8. Robot và tự động hóa có thể trở thành người thắng lớn của quá trình già hóa

Một hệ quả khác rất đáng chú ý là tự động hóa.

Khi Việt Nam còn dư thừa lao động giá rẻ, doanh nghiệp không phải lúc nào cũng có động lực mua máy móc đắt tiền.

Ví dụ một hệ thống tự động hóa trị giá 2 tỷ đồng thay thế được 10 lao động.

Nếu thuê 10 người chỉ tốn 80 triệu đồng mỗi tháng, doanh nghiệp có thể thấy thời gian hoàn vốn của máy quá dài.

Nhưng nếu sau này lao động khó tuyển và chi phí tăng lên 150–200 triệu mỗi tháng, bài toán hoàn toàn thay đổi.

Máy móc trở nên kinh tế hơn.

Vì vậy:

thiếu lao động → tiền lương tăng → thời gian hoàn vốn của máy móc giảm → doanh nghiệp tự động hóa.

Đây chính là con đường Nhật Bản, Hàn Quốc và nhiều nền kinh tế già hóa đã đi.

Do đó già hóa dân số có thể trở thành một trong những động lực thúc đẩy:

robot;

trí tuệ nhân tạo;

máy CNC;

nhà máy tự động;

phần mềm quản lý;

thiết bị tiết kiệm lao động

phát triển mạnh tại Việt Nam.

9. Cánh cửa thoát hiểm lớn nhất của Việt Nam là năng suất

Đây là phần quan trọng nhất của toàn bộ bài toán.

GDP của một quốc gia có thể đơn giản hóa thành:

số người tạo ra sản phẩm × giá trị trung bình mỗi người tạo ra.

Nếu lực lượng lao động tăng 2% và năng suất tăng 4%, nền kinh tế có một luồng gió rất thuận.

Nhưng sau dân số vàng, lực lượng lao động có thể gần như không tăng hoặc thậm chí giảm.

Lúc đó gần như toàn bộ gánh nặng tăng trưởng chuyển sang năng suất.

Năm 2025, Việt Nam có khoảng 53,8 triệu người trong lực lượng lao động, nhưng tỷ lệ lao động có bằng cấp hoặc chứng chỉ đào tạo chỉ khoảng 29,5%.

Nhìn theo hướng tiêu cực, đây là điểm yếu.

Nhưng nhìn theo hướng khác, đây cũng chính là dư địa.

Nếu hàng chục triệu lao động có thể chuyển từ những công việc giá trị thấp sang:

kỹ thuật;

điều khiển máy móc;

thiết kế;

công nghệ;

tài chính;

phần mềm;

sản xuất chính xác;

nghiên cứu;

công nghiệp bán dẫn;

thì một lao động tương lai có thể tạo ra giá trị bằng nhiều lao động hiện tại.

Khi ấy Việt Nam không còn cần phải có thêm thật nhiều người để duy trì tăng trưởng.

Mỗi người chỉ cần trở nên năng suất hơn.

10. Việt Nam cũng có thể từ nước xuất khẩu lao động trở thành nước nhập khẩu lao động

Đây là một khả năng hiện nay nghe có vẻ xa nhưng vài thập kỷ nữa có thể trở nên hoàn toàn bình thường.

Ngày nay người Việt sang Nhật Bản, Hàn Quốc và nhiều nước khác làm việc vì thu nhập ở đó cao hơn.

Nhưng hãy giả sử đến năm 2045–2050, thu nhập Việt Nam đã tăng lên nhiều lần trong khi một số quốc gia xung quanh vẫn nghèo hơn đáng kể.

Đồng thời Việt Nam lại thiếu lao động trẻ.

Khi ấy chênh lệch thu nhập sẽ bắt đầu hút lao động theo hướng ngược lại.

Người từ những nước có mức thu nhập thấp hơn có thể đến:

TP.HCM;

Hà Nội;

Bình Dương;

Đồng Nai;

Hải Phòng;

và những trung tâm sản xuất khác

để làm việc.

Điều này đã xảy ra ở nhiều quốc gia từng là nước xuất khẩu lao động.

Khi họ giàu lên và già hóa, họ lại trở thành nước nhập khẩu lao động.

Việt Nam hoàn toàn có thể đi qua quá trình tương tự.

11. Kịch bản xấu nhất của Việt Nam không phải là già hóa

Đây là điều tôi muốn nhấn mạnh.

Dân số già tự nó không làm một quốc gia nghèo.

Nhật Bản rất già nhưng vẫn là một nền kinh tế phát triển.

Đức già nhưng vẫn có năng lực công nghiệp cực mạnh.

Điều nguy hiểm là:

già hóa mà năng suất không tăng.

Nếu Việt Nam bước vào một chuỗi như sau:

mức sinh thấp → lao động trẻ giảm → tiền lương tăng → năng suất không tăng tương ứng → chi phí sản xuất tăng → lợi thế lao động rẻ biến mất → FDI thâm dụng lao động tìm địa điểm rẻ hơn,

trong khi phía bên kia:

người cao tuổi tăng → chi phí y tế + lương hưu + an sinh tăng → ngân sách chịu áp lực,

thì một vòng phản hồi rất khó có thể xuất hiện:

tăng trưởng chậm → nguồn thu tăng chậm → chi phí già hóa tăng → nguồn lực dành cho đầu tư phát triển giảm → năng suất càng khó tăng → tăng trưởng tiếp tục chậm.

World Bank từng ước tính tác động của già hóa có thể khiến tốc độ tăng trưởng dài hạn của Việt Nam giai đoạn 2020–2050 thấp hơn khoảng 0,9 điểm phần trăm mỗi năm so với quỹ đạo trước đó nếu không có những cải cách thích hợp.

Đây mới là điểm nghẽn thực sự.

Không phải Việt Nam thiếu người.

Mà là:

Việt Nam thiếu người trong khi mỗi người còn chưa tạo ra đủ nhiều giá trị.

12. Nhưng Việt Nam vẫn còn một cửa sổ thời gian cực kỳ quý giá

Theo các dự báo phổ biến, Việt Nam vẫn còn hơn một thập kỷ trước khi cửa sổ dân số vàng đóng lại.

Khoảng thời gian này cực kỳ quan trọng.

Bởi những gì Việt Nam xây dựng trước khi già hóa sẽ quyết định Việt Nam già đi trong trạng thái nào.

Có hai con đường rất khác nhau.

Con đường thứ nhất:

lao động rẻ → gia công → FDI → bất động sản → tín dụng → tiếp tục dựa vào tăng số lượng vốn và lao động.

Mô hình này có thể hoạt động rất tốt khi lực lượng lao động còn tăng nhanh.

Nhưng nó sẽ ngày càng khó duy trì khi dân số già.

Con đường thứ hai:

giáo dục → kỹ năng → công nghệ → tự động hóa → doanh nghiệp nội địa mạnh → năng suất → thu nhập cao.

Nếu chuyển được sang mô hình thứ hai trước khi dân số vàng kết thúc, câu chuyện sẽ hoàn toàn khác.

Việt Nam có thể có ít lao động hơn nhưng mỗi người tạo ra nhiều của cải hơn.

Một nhà máy 1.000 công nhân hôm nay có thể trở thành một nhà máy chỉ cần 300 người nhưng sản lượng gấp đôi.

Một lao động thu nhập 15 triệu đồng có thể trở thành kỹ thuật viên điều khiển máy móc tạo ra thu nhập 40–50 triệu đồng.

Một doanh nghiệp Việt Nam thay vì chỉ gia công cho nước ngoài có thể sở hữu thiết kế, thương hiệu và công nghệ của chính mình.

Khi đó:

dân số giảm tốc nhưng năng suất tăng nhanh hơn.

Đây chính là cách thoát khỏi cái bẫy nhân khẩu học.

13. Cuộc đua thật sự của Việt Nam từ nay đến cuối thập niên 2030

Nếu nhìn toàn bộ vấn đề theo cách này, chúng ta sẽ thấy dân số vàng thực chất giống như một khoản vốn có thời hạn.

Việt Nam không tạo ra nó.

Việt Nam được lịch sử nhân khẩu học trao cho nó.

Và nó đang dần hết hạn.

Trong thời kỳ dân số vàng, một quốc gia có thể tăng trưởng nhờ:

thêm lao động + thêm nhà máy + thêm vốn + thêm đô thị.

Nhưng sau dân số vàng, công thức phải thay đổi:

ít lao động hơn + nhiều máy móc hơn + kỹ năng cao hơn + năng suất cao hơn + giá trị trên mỗi người lớn hơn.

Do đó câu hỏi lớn nhất của Việt Nam trong khoảng 10–15 năm tới không phải:

“GDP năm sau tăng 8%, 9% hay 10%?”

Một năm tăng trưởng cao không giải quyết được bài toán này.

Câu hỏi quan trọng hơn nhiều là:

Trong những năm dân số vàng cuối cùng, Việt Nam đang dùng lực lượng lao động khổng lồ hiện tại để xây dựng thứ gì cho thời kỳ mà lực lượng lao động ấy không còn nữa?

Nếu câu trả lời là năng suất, công nghệ, giáo dục, tự động hóa, doanh nghiệp nội địa mạnh và một hệ thống an sinh đủ bền vững, Việt Nam hoàn toàn có thể tiếp tục phát triển mạnh sau khi dân số vàng kết thúc.

Nhưng nếu lợi thế lao động trẻ bị tiêu hao trong một mô hình chủ yếu dựa vào nhân công giá rẻ, gia công và tăng lượng vốn, Việt Nam sẽ bước vào tuổi già với một bài toán rất khó.

Vì vậy tôi cho rằng điểm nghẽn nhân khẩu học của Việt Nam có thể tóm lại trong một câu:

Dân số vàng cho Việt Nam rất nhiều người để tạo ra của cải. Nhưng trước khi lợi thế đó kết thúc, Việt Nam phải biến số lượng con người thành chất lượng con người.

Bởi sau thời kỳ dân số vàng, Việt Nam vẫn có thể giàu lên.

Nhưng con đường để giàu sẽ không còn giống con đường đã đưa Việt Nam đi đến ngày hôm nay.

Tác giả: nguyennghia