PHẦN 8 – LỰA CHỌN DOANH NGHIỆP CÓ HỆ SỐ TÀI SẢN AN TOÀN TRONG BỐI CẢNH THIÊN KIẾN THỊ GIÁ
Tác giả: nguyennghia
Trong các chu kỳ biến động của thị trường, phần lớn sai lầm không đến từ việc nhà đầu tư đọc sai báo cáo tài chính, mà đến từ việc họ đánh giá sai khả năng chịu đựng thiên kiến của doanh nghiệp. Khi thị trường lạc quan, kỳ vọng được cộng dồn vào giá. Khi thị trường bi quan, chính những kỳ vọng đó bị rút cạn, để lộ ra phần cấu trúc thật sự còn đứng vững. Vì vậy, câu hỏi nền tảng của việc lựa chọn doanh nghiệp không phải là doanh nghiệp tăng trưởng nhanh đến đâu, mà là doanh nghiệp còn lại những gì khi thị trường không còn tin nữa.
Điểm xuất phát của phân tích là Nền Nội (NN). NN không phải là tổng tài sản kế toán, mà là phần tài sản có thể tồn tại độc lập với trạng thái cảm xúc của thị trường. NN được xác định bằng cách loại bỏ khỏi tổng tài sản phần tài sản chỉ sống nhờ thiên kiến mua, theo công thức NN = TA_TỔNG − TA_KỲ_VỌNG. Phần TA_KỲ_VỌNG bao gồm những cấu phần chỉ được định giá cao khi kỳ vọng còn hiệu lực, như tài sản vô hình không tạo dòng tiền (TSVHKDT), lợi thế thương mại, chi phí mở rộng chưa tạo thu, và các tài sản tài chính phụ thuộc mạnh vào biến động giá thị trường. Khi thiên kiến bán xuất hiện, đây là lớp tài sản sụp đổ đầu tiên.
Tuy nhiên, ngay cả khi đã loại bỏ tài sản kỳ vọng, Nền Nội vẫn chưa phản ánh đầy đủ sức chịu đựng. Trong các pha hoảng loạn, thị trường không chỉ phủ nhận kỳ vọng mà còn chiết khấu mạnh những tài sản kém thanh khoản. Vì vậy, trong NN cần tiếp tục phân biệt hai lớp: tài sản mềm và tài sản cứng. Tài sản mềm (TS_MỀM) là phần tài sản vẫn tồn tại về mặt vật chất nhưng dễ bị bóp méo giá trị khi xảy ra bán tháo, bao gồm hàng tồn kho luân chuyển chậm, các khoản phải thu rủi ro, tài sản cố định khó thanh lý và các khoản đầu tư khó bán. TS_MỀM được xác định bằng tổng của các cấu phần này. Phần còn lại sau khi loại bỏ TS_MỀM khỏi NN chính là tài sản cứng (TS_CỨNG), tức TS_CỨNG = NN − TS_MỀM.
TS_CỨNG là phần giá trị có khả năng neo doanh nghiệp qua các pha cực đoan của thiên kiến bán. Đây là lớp tài sản mà dù thị trường có bi quan đến đâu, vẫn không thể bị triệt tiêu trong ngắn hạn. Trong Trường Phái Nguyên Lý Chu Kỳ Thiên Kiến, TS_CỨNG mới là nền tảng để nói đến an toàn.
Đối diện với tài sản là áp lực nợ. Rủi ro thực sự không nằm ở tổng nợ, mà nằm ở phần nợ buộc doanh nghiệp phải xử lý trong một chu kỳ bất lợi. Phần nợ này được ký hiệu là H, được xác định bằng tổng nợ ngắn hạn cộng với phần nợ dài hạn đến hạn trong chu kỳ thiên kiến giảm. Mối quan hệ giữa NN và H được thể hiện qua hệ chịu nợ, cho biết doanh nghiệp có bị ép hành động khi thị trường quay lưng hay không.
Tài sản và nợ mới chỉ phản ánh trạng thái tĩnh. Để hiểu khả năng tồn tại theo thời gian, cần đưa yếu tố dòng tiền vào phân tích. C là dòng tiền sống, được xác định bằng dòng tiền từ hoạt động kinh doanh trừ đi chi phí duy trì tối thiểu. C phản ánh khả năng tự nuôi sống của doanh nghiệp khi không còn tăng trưởng và không còn thị trường thuận lợi. Từ đó, thời gian chịu đựng nợ được xác định bằng tỷ lệ giữa H và C, cho biết doanh nghiệp có thể tự đi qua bao lâu của một chu kỳ thiên kiến bất lợi.
Khi kết hợp Nền Nội, áp lực nợ và dòng tiền sống, hệ số trung tâm của toàn bộ phần này xuất hiện, ký hiệu T. Hệ số này được xác định bằng công thức T = (NN × C) / (H²). T không nhằm dự đoán lợi nhuận, mà nhằm đo khả năng sống sót của doanh nghiệp trước sai lệch hành vi của thị trường. T càng cao, doanh nghiệp càng ít phụ thuộc vào trạng thái cảm xúc của đám đông.
Trong các pha thiên kiến bán, thị trường thường định giá doanh nghiệp dựa trên nỗi sợ nhiều hơn dữ liệu. Khi vốn hóa thị trường thấp hơn phần giá trị cứng còn lại sau khi trừ nợ ép, doanh nghiệp rơi vào trạng thái bị bán quá đà về mặt hành vi. Chính tại những thời điểm đó, việc lựa chọn doanh nghiệp có NN dày, TS_CỨNG rõ ràng, H không gây áp lực và C đủ duy trì trở thành hành động mang tính cấu trúc, không phải cảm tính.
Như vậy, lựa chọn doanh nghiệp trong Trường Phái Nguyên Lý Chu Kỳ Thiên Kiến không phải là việc tìm kiếm sự hoàn hảo, mà là việc xác định ai không bị phá vỡ khi thị trường sai. Giá có thể dao động theo thiên kiến, nhưng cấu trúc chỉ sụp đổ khi nền nội không đủ vững. Phần này vì thế không đứng độc lập, mà là nền móng để kết hợp với N6 và mười giai đoạn Thiên Kiến Thị Giá trong các phần tiếp theo.
Lời vinh danh
Hệ công thức NN – H – C – T không chỉ là một cấu trúc toán học. Với nguyennghia, đó còn là một cách ghi nhớ và tri ân. Chữ H được đặt theo tên bà nội, người đã dạy giá trị của sự bền bỉ và nền nếp, cũng là hình ảnh của phần nợ và trách nhiệm mà con người phải gánh và vượt qua. Chữ C là tên của người anh tên Châu, người đã đồng hành trong những giai đoạn khó khăn nhất, tượng trưng cho dòng tiền sống – thứ giúp con người và doanh nghiệp tồn tại khi mọi điều kiện thuận lợi đều biến mất. Chữ T là tên của một người anh đã đi cùng nguyennghia từ những ngày đầu nghiên cứu, đại diện cho trục sống còn, cho sự kết tinh của tài sản, thời gian và niềm tin.
Việc đặt tên họ vào công thức không nhằm cá nhân hoá khoa học, mà để nhắc rằng phía sau mọi hệ thống tư duy đều là con người, ký ức và ân nghĩa. Trường phái này được xây dựng không chỉ từ dữ liệu và thị giá, mà còn từ những mối quan hệ đã giúp nó tồn tại qua những giai đoạn thiên kiến khắc nghiệt nhất.
nguyennghia
